Subscribe

RSS Feed (xml)

Powered By

Skin Design:
Free Blogger Skins

Powered by Blogger

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2009

CYCLAMEN - ANH THẢO

Chi Tiên khách lai

cyclamen_persicum_by_Anguissola by you.

Phân loại khoa học:

Giới (regnum): Plantae.

Ngành (division): Magnoliophyta.

Lớp (class): Magnoliopsida.

Bộ (ordo): Ericales.

Họ (familia): Myrsinaceae.

Chi (genus): Cyclamen.

Chi Tiên khách lai (danh pháp khoa học: Cyclamen) là một chi của khoảng 20 loài trong thực vật có hoa, theo truyền thống được phân loại trong họ Anh thảo (Primulaceae), nhưng trong những năm gần đây đã được phân loại lại vào trong họ Đơn nem (Myrsinaceae). Các tên gọi phổ biến của các loài trong chi này là tiên khách lai, hoa tai thỏ, hải đường rau cải, viôlet BaTư hay anh thảo.

Cyclamen 6 by you.

Phân bổ.

Các loài tiên khách lai có nguồn gốc ở khu vực Địa Trung Hải, từ Tây Ban Nha kéo dài về phía đông tới Iran, cũng như ở khu vực đông bắc châu Phi kéo dài về phía nam tới Somalia.

Các loài tiên khách lai thường mọc trong các cánh rừng khô hay trong các bụi rậm, tại đó chúng có thể tránh được ánh nắng gay gắt. Các loài có sức chịu giá rét khác nhau, với loài chịu lạnh nhất (C. hederifolium) có thể chịu được nhiệt độ xuống tới -15°C, hay -30°C nếu được tuyết che phủ; ngược lại, loài C. somalense ở đông bắc Somalia, không chịu được sương giá.

Đặc trưng

Chúng là các loại cây thân thảo sống lâu năm có hoạt động ngủ hè, với các thân củ mọc trên mặt đất hay ngầm (xuất hiện từ trụ dưới lá mầm) đường kính 4-12 cm, từ đó sinh ra các lá vào cuối mùa đông, cũng như hoa vào mùa thu; các lá bị chết đi về mùa hè tại những khu vực nóng và khô hạn nhất ven Địa Trung Hải để bảo tồn nước. Lá hình tròn hay tam giác, dài 2-10 cm, rộng 2-7 cm, và thường điểm các đốm hình móng ngựa màu trắng bạc nhạt xung quanh phần giữa của lá. Các đốm này được một số nhà thực vật học cho là một dạng của sự ngụy trang tự nhiên để làm giảm khả năng bị động vật gặm ăn. Hoa mọc thành vòng xoắn gồm từ 3 tới 10 hoa, mỗi hoa mọc trên một cuống mảnh dẻ cao 3-12 cm, với 5 cánh hoa hợp nhất; có màu từ trắng tới hồng hay tía đỏ, phần lớn có màu hồng nhạt. Quả là loại quả nang có 5 khoang, đường kính 1-2 cm, chứa nhiều hạt dính nhớt đường kính khoảng 2 mm. Hạt được phát tán tự nhiên nhờ kiến, do chúng ăn phần cùi bao quanh hạt và làm phát tán hạt. Ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) cũng phá hại các loài tiên khách lai, như Naenia typica.

Cyclamen 15 by you.

Trồng và sử dụng

Các loài tiên khách lai nói chung được trồng để lấy hoa, chúng được trồng trong chậu cả trong và ngoài nhà. Một vài loài chịu lạnh có thể trồng ngoài nhà tại các khu vực có khí hậu ôn hòa như khu vực tây bắc châu Âu và vùng ven tây bắc Thái Bình Dương.

Loài tiên khách lai được những người trồng hoa bán nhiều nhất là C. persicum, nó kém chịu lạnh. Một vài giống chọn lọc có thể có hoa màu trắng, hồng tươi, đỏ hay tía. Khi nở hoa, cần giữ chúng ở nhiệt độ dưới 20 °C (68 °F), với nhiệt độ ban đêm dao động trong khoảng từ 7 °C (44 °F) tới 15 °C (59 °F). Nhiệt độ trên 20 °C có thể khiến cây rơi vào trạng thái ngủ.

Tại nhiều khu vực trong khu vực bản địa của chúng, quần thể tiên khách lai đã bị suy giảm nghiêm trọng do bị thu hái từ hoang dã, thường là bất hợp pháp, để phục vụ cho mục đích thương mại; nên một số loài hiện nay đã rơi vào tình trạng nguy cấp. Tuy nhiên, ở một số ít các khu vực khác, các hiệp hội bảo tồn thực vật đã giáo dục người dân địa phương trong việc kiểm soát việc thu hoạch hoa một cách cẩn thận ở mức độ thích hợp, bao gồm cả việc gieo hạt cho các vụ mùa tương lai, đảm bảo cho cả sự duy trì của các quần thể hoang dại lẫn đảm bảo sự thu nhập tin cậy dài hạn. Nhiều loài tiên khách lai cũng được nhân giống trong các vườn ươm mà không gây tổn hại cho các cây hoang dại.

Các loài tiên khách lai có chứa các chất độc; chúng cũng đã được sử dụng trong y học để làm một loại thuốc sổ mạnh, nhưng độc tính của nó làm cho điều này trở thành khá nguy hiểm.

Cyclamen 17 by you.

Lưu ý:

  1. Không có quan hệ họ hàng gì với các loài hải đường thật sự thuộc chi Malus hay thu hải đường thuộc chi Begonia.
  2. Không có quan hệ họ hàng gì với các loài viôlet thật sự thuộc chi Viola.
  3. Tên gọi anh thảo trong Wikipedia được ưu tiên dành cho chi Primula.

(Sưu tầm từ vi.wikipedia.org)

Cyclamen (Hoa Anh Thảo)
Sự thiếu tự tin, nhút nhát.

Cyclamen 4 by you.
Hãy tựa đầu nơi tình yêu đã được sinh ra
Đừng nghiêng sầu giống nỗi buồn thất vọng
Hỡi em, những cánh hoa của tâm hồn bé bỏng
Dù mọc nơi nào cũng vẫn là Anh Thảo yêu thương
Ta đắm say lòng tinh khiết dâng hương
Nét e ấp của riêng em mãi mãi
Như một bài ca không bao giờ ngưng lại!
(WALTER SAVAGE LANDOR)

Tên Việt: Anh Thảo hay Anh Thảo thường, Thiên Hồng, hoa Tai thỏ.

Tên Anh: Cyclamen.

Tên Nhật: Shikuramen.

Tên khoa học: Cyclamen persicum.

Ý nghĩa: Hoa Anh thảo mang ý nghĩa “nhút nhát, thiếu tự tin” vì nó chưa bao giờ dám hướng về phía mặt trời. Ngoài ý nghĩa trên, hoa Anh thảo còn mang ý nghĩa là “sự khước từ và vĩnh biệt” (Resignation & Goodbye).

Cyclamen 16 by you.

Bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy “khuôn mặt” thật sự của bông hoa anh thảo, nếu bạn không cúi xuống và nhìn ngược lên. Một loài hoa kỳ cục, cứ cúi gằm mặt xuống đất. Ngay từ khi còn là một cái nụ, nụ hoa anh thảo đã quẹo đầu như cái móc. Những cánh hoa mọc ra lại vểnh ngược lên trên, trông cứ như một cái vương miện con con.

Có khoảng 22 giống Anh thảo, lá tròn, dầy, có những đường gân trắng nhạt! Là một loại hoa sống lâu, mọc giữa thiên nhiên,trên các triền núi hoặc trong những cánh rừng thưa dưới bóng mát. Vùng Tiểu Á chiếm đại đa số các gốc hoa Anh thảo trên thế giới.

Đặc biệt loại Anh thảo miền núi (Cyclamen europameum) có màu hồng phấn, hoa nở vào mùa hè kéo dài đến đầu thu; kế đó phải nói tới loại Anh Thảo được vun xới, chăm sóc trong nhà, người ta gọi là Anh Thảo Ba tư (Cyclamen persicum), hoa này có gốc từ vùng Trung Âu, Địa Trung Hải ( không hiểu tại sao người ta lại gọi là Anh thảo Ba tư?), hoa có nhiều màu sắc : Trắng, hồng, đó tía, đỏ tím và hồng cam.

Ngoài ra Anh thảo còn được gọi là "pain- de- pourceau" (bánh mì cho heo con), giống hoa này là Anh thảo vùng Nalpes (anh thảo có lá trường xuân), khi ta bắt đầu thấy hoa nở đầu mùa, đó là báo hiệu mùa hạ đã tàn!

Người La Mã gọi hoa Anh Thảo là "tuber terrae" bởi vì rễ của nó trông giống như những củ cải trắng. Từ thế kỉ 17, người ta đã biết bào chế những "củ tươi" của cây Anh Thảo để làm thành một loại thuốc mỡ, dùng bôi vào da để tránh bị thẹo rỗ sau khi bị bệnh đậu mùa. Củ Anh Thảo còn được xay thành bột để làm bánh, bồi bổ sức khỏe, tăng khả năng sinh hoạt tình dục hay làm thực phẩm cho gia súc. Hoa Anh Thảo còn có thể dùng ngâm rượu (Cowslip wine). Cháo hoa Anh Thảo được nấu từ bột hoa, mật ong, sữa hạnh đào, nghệ tây, gạo và bột gừng, ăn bổ dưỡng. Lá cây Anh Thảo có thể ăn sống hay nấu trà uống.Rễ của Anh thảo chứa nhiều chất cyclamine, dược chất rất hiệu nghiệm trong việc dùng tẩy rửa , chống lại các vi khuẩn ăn bám đường ruột và thuốc làm nôn mửa. Nhưng khi ta dùng thái quá phân lượng thì có thể tử vong vì bộ não bị tê liệt gây ra bởi chất cyclamine! Tuyệt diệu hơn ở chổ chất cyclamine lại dễ bị tiêu huỷ bởi độ nóng, cho nên trong lịch sử rể Anh Thảo đã từng nuôi sống con người trong cơn nạn đói.

Cyclamen 11 by you.
Cyclamen 3 by you.

Vào thời thượng cổ, các vị vua chúa xứ Ba Tư rất yêu chuộng hoa Anh thảo và trong vườn ngự uyển của các Ngài thì Anh thảo chiếm một địa vị rất quan trọng. Người La- mã lại yêu thích loài hoa này vì mùi hương thơm nhẹ, khiêm nhường , có nhiều màu sắc thật quyến rũ!

Người Công Giáo lại xem Anh thảo là hình ảnh trái tim của Đức Mẹ Đồng trinh chảy máu xuống trần thế. Các nhà hoạ sĩ nổi danh flamants vào thế kỷ 17, thường rải hoa Anh thảo trên những cánh đồng bát ngát trong tranh, xem như Chúa Hài đồng đi hái hoa cùng các thiên thần bao quanh.

Mẫn cảm của sự ghen tuông! Rất đòi hỏi, hoa Anh thảo tự thán : "Sắc đẹp của người làm cho tôi phân vân và tuyệt vọng! ". Ngoài ra cũng muốn nói : "Tôi yêu những thứ hiếm hoi và khó khăn chiếm đoạt !". Tóm lại Anh thảo tượng trưng cho một tình cảm bền lâu.

(Sưu tầm trên internet)

PRIMROSE - ANH THẢO XUÂN

Chi Anh thảo

_wsb_500x338_17_primula_harmony_7xmix by you.

Phân loại khoa học:

Giới (regnum): Plantae.

Ngành (division): Magnoliophyta.

Lớp (class): Magnoliopsida.

Bộ (ordo): Ericales.

Họ (familia): Primulaceae.

Chi (genus): Primula.

Primrose 10 by you.

Chi Anh thảo hay chi Báo xuân (danh pháp khoa học: (Primula) là một chi chứa khoảng 400-500 loài cây thân thảo mọc thấp trong họ Anh thảo (Primulaceae). Chúng bao gồm anh thảo Anh, tai gấu. Nhiều loài được trồng làm cây hoa cảnh. Chúng có nguồn gốc ở khu vực ôn đới Bắc bán cầu, kéo dài về phía nam tới các khu vực miền núi cao thuộc khu vực nhiệt đới như ở Ethiopia, Indonesia và New Guinea cũng như được tìm thấy ở khu vực ôn đới thuộc miền nam Nam Mỹ. Các tên gọi phổ biến trong tiếng Việt là anh thảo, báo xuân, ngọc trâm hoa, liên linh hoa.

Những loài anh thảo sống lâu năm nở hoa chủ yếu về mùa xuân; hoa của chúng có thể có màu tía, vàng, đỏ, hồng hay trắng. Nói chung, chúng ưa thích ánh sáng Mặt Trời đã lọc qua các tầng lá khác. Nhiều loài thích nghi với các khu vực có khí hậu miền núi cao.

Cả tên khoa học (Primula) lẫn tên gọi thông thường (báo xuân) đều có ý nghĩa là loài hoa nở đầu tiên về mùa xuân.

Các loài anh thảo bị ấu trùng của một số loài thuộc bộ Lepidoptera phá hại, như Noctua pronuba, Noctua janthina, Xestia c-nigrumXanthorhoe montanata.

Một số loài của chi Primula đôi khi còn được gọi là thủy tiên hoa bó (polyanthus), dù chúng không có họ hàng gì với hoa thủy tiên thực sự (chi Narcissus).

2316853779_37c343caa7 by you. Primula obconica (Primrose) by you.
Primula 'Wanda' by you. Primula 'Inverewe' (Primrose) by you.
primrose.cc.preview by you. f55042J by you.
f55037J by you. F55031J by you.
Evening primrose 10 by you. pink_primula_800 by you.Evening primrose 7 by you. donkeefe by you. primula-woodland-walk by you. PRI_EKI400_3 by you.

Spring Primrose (Anh thảo xuân)
Tuổi mới lớn, dậy thì.
Primrose 5 by you.
Mùa xuân và hoa Anh thảo
Yêu nhau như cặp tình nhân
Mùa hạ giận dỗi quay lưng
Nghĩ về hoa làm chi nữa
(WILLIAM WORDSWORTH)


Tên tiếng Việt: Anh Thảo xuân, Ngọc Trâm, Báo xuân.

Tên tiếng Hoa: :Liên hương báo xuân hoa.

Tên tiếng Anh: Primrose hay Cowslip.

Tên tiếng Pháp: Primevère.

Tên Latin: Primula.

Tên khoa học: Primula veris, Primula elatior.

Thông điệp: "I can't live without you"

Biểu tượng: Early youth.

Primrose 8 by you.

Ngọc Trâm hay còn gọi là Anh Thảo, hoa Báo xuân - là loài hoa dại mọc nhiều ở các vùng ôn đới, có một đài hoa hình ống và năm cánh hoa màu vàng nghệ. Hoa Anh Thảo nở, báo hiệu sự trở về của mùa xuân, khi những cơn gió lạnh và sương giá trắng xóa đã qua đi nhưng những ngày ấm áp tươi sáng của mùa hạ lại chưa đến. Do vậy, loài hoa này là biểu tượng ưu thế của sự duyên dáng và sắc đẹp tuổi trẻ, là đại diện cho lứa tuổi giữa trẻ con và thiếu nữ, tượng trưng cho “tuổi dậy thì”. Tên của nó bắt nguồn từ chữ Latin Prima Rosa, hoa đầu tiên trong mùa. Tuy vậy, cũng có một số quan niệm khác cho rằng hoa Anh Thảo còn có ý nghĩa là sự không kiên định, thiếu kiên nhẫn, thiếu tự tin, hay thay đổi. Còn với tâm hồn thi sĩ của Shakespeare, ông nhìn những đóa Ngọc Trâm bằng cái nhìn ảm đạm - khi trong một bài thơ - ông so sánh loài hoa này với những nàng thiếu nữ chết ở tuổi thanh xuân khi chưa kịp kết hôn, chưa kịp nhìn thấy vầng ánh dương vào lúc rạng rỡ nhất.

Yêu em bạn ngọc bên đời

Hồng xuân xin tặng tim bồi hồi đau

Hoa trinh một nụ tươi cười

Tuổi thơ xanh ngát một đời nhớ thương

("The Winter's Tale"-William Shakespeare,1564-1616)

Hoa Anh Thảo muộn - Evening Primrose (Cowslip) – Tình yêu thầm lặng.

Hoa Anh Thảo Muộn không bao giờ hé nở các búp hoa màu vàng nhạt của mình cho đến khi trăng lên. Loài hoa này hướng về phía trăng bạc và vào lúc nửa đêm chúng thường bị bao vây bởi nhiều loại côn trùng tránh ánh nắng ban ngày và xem loài hoa này là một bữa tiệc đêm thịnh soạn. Khi đêm xuống và không gian hoàn toàn yên tĩnh, các cánh hoa phát ra một thứ ánh sáng lân tinh dìu dịu trông như những ngọn đèn được thắp sáng cho một đêm lễ hội.

Evening primrose 2 by you.

Hoàng hôn từ tốn buông màn

Sương long lanh gọi ngày tàn trăng lên

Giữa ngàn sao mọc êm đềm

Hoa Anh Thảo muộn theo đêm trở về

Như ẩn sĩ ngậm lời thề

Trăng lên hoa nở chẳng hề đơn sai

Hoa ơi hoa nở vì ai

Lặng thầm nhan sắc đêm dài lẻ loi

Để khi nắng sớm mai soi

Lại từ tạ nhận thiệt thòi ra đi...

(John Clare)

4203_l by you.

Hoa Anh Thảo còn có những cái tên thông dụng bằng tiếng Anh khác, tùy nơi và chúng thường gắn với một sự tích nào đó: Paigle, Peagles, Herb Peter, Butter-rose, Key Flower, Our Lady's Keys, Key of Heaven... Trong tiếng Anh, hoa này được gọi là Primrose nghĩa là “hoa hồng đầu tiên” Ở một số nơi thuộc miền Tây nước Anh, loài hoa này còn được gọi mộc mạc là Butter-rose do hoa có màu vàng rất giống với loại bơ được làm trong các trang trại ở đó. Hoa Anh Thảo còn được gọi là Key Flower vì nó là biểu tượng cho chùm chìa khóa mở cánh cổng Thiên Đàng của Thánh Peter (nó còn được gọi là Herb Peter hay Key of Heaven).

Theo truyền thuyết, một ngày nọ, Thánh Peter nghe tin đồn rằng mọi người đang cố gắng vào Thiên Đàng bằng cửa sau, thay vì bằng cửa trước mà ông đang giữ chìa khóa. Ông rất giận vì sự thiếu tôn trọng đó đến nỗi làm rơi chùm chìa khóa xuống trần gian. Thế là chúng cắm rễ, nở ra những bông hoa Anh Thảo.

Primrose 4 by you.

Ở Đức, Anh Thảo được biết đến với cái tên Himmelschlüsselchen, có nghĩa là "những chiếc chìa khóa nhỏ của Thiên Đường". Anh Thảo được xem như bông hoa thần tiên ở Irelandxứ Wales, được các tiên nữ yêu thích và bảo vệ. Theo truyền thuyết Nauy thì bông hoa này là để tưởng nhớ đến Frcya, The Key Virgin; hay the Virgin Mary ở các nước Bắc Âu khác. Vì thế mà hoa còn có tên Our Lady's Keys, Key of Heaven.

Dưới triều đại nữ hoàng Victoria, hoa Ngọc Trâm trở thành một loài hoa thời thượng và được thủ tướng Disreali yêu thích nhất. Nữ hoàng Anh thường gửi cho ông những bó Ngọc Trâm hái từ khu vườn hoàng gia. Và khi ông mất, nữ hoàng đã gửi đến một vòng hoa lớn kết bằng những đóa Ngọc Trâm để bày tỏ mối thiện cảm và sự kính trọng của mình.

Ngày Hoa anh thảo (Anh) - Vào ngày mất của cố thủ tướng Anh Benjamin Disraeli, người ta đặt hoa anh thảo trước tượng ông trên Quảng trường Quốc hội (London). Hoa anh thảo là loại hoa yêu thích của ông.

Cho đến giữa thế kỉ 17, Anh Thảo xuân vẫn chỉ có màu vàng, sau đó, những nhà làm vườn ở Anh mới lai tạo thành nhiều màu như đỏ sậm, đỏ nhạt, đỏ chói, vàng nhạt như bây giờ.

(Sưu tầm trên internet).

LISIANTHUS - HOA CÁT TƯỜNG

May mắn.

http://www.dontveter.com/howtogrow/eustgran9.jpg

Tên thông dụng: Prairie gentian, Lisianthus, Texas bluebell, Tulip gentian, bluebells, Lira de san pedro.

Phân loại khoa học:

  • Giới (regnum): Plantae.

  • Ngành (divisio): Magnoliophyta.

  • Lớp (class): Magnoliopsida.

  • Bộ (ordo): Gentianales.

  • Họ (familia): Gentianaceae.

  • Chi (genus): Eustoma Salisb. (1806).

https://californiaorganicflowers.com/uploads/LisianthusMix.jpg

Eustoma là 1 chi của 3 loài trong họ Gentianaceae, được tìm thấy ở khu vực có khí hậu ấm áp ở miền Nam United States, Mexico, Caribbean và khu vực phía bắc của South America. Chúng thuộc loại cây một năm thân thảo, cao 15 – 60 cm, với lá xanh biếc, mảnh dẻ, mọng nước, có hoa lớn, hình phễu mọc thẳng đứng từ thân cây.

Hoa cát tường có tên khoa học Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn, là loại hoa đẹp không những có hình dáng hoa thanh lịch giống hoa hồng mà còn có bộ lá xinh xắn, đa dạng về màu sắc và chủng loại có nguồn gốc từ miền tây nước Mỹ, có khả năng chịu lạnh tốt, du nhập vào Đà Lạt nước ta lần đầu tiên khoảng hơn 8 năm về trước với nhiều chủng loại và màu sắc đa dạng như: kem, tím, vàng, hồng, hồng phai, tím đậm, trắng viền tím… Cát tường không rực rỡ như hoa cúc và không lộng lẫy như hoa hồng nhưng lại thu hút khách bởi vẻ đẹp đơn sơ và bởi quan niệm cát tường là loài hoa mang lại nhiều may mắn.

Cái tên Eustoma được ghép từ chữ Hy Lạp Eu- (beautiful, good, well-) và stoma (mouth). Ý nghĩa của Eustoma là “good-tasting” hoặc “well-spoken” (Corneliuson, 1997), nhưng trong trường hợp có một số loại nếu như nó ám chỉ màu sắc riêng của miệng tràng hoa thì nó lại có ý nghĩa là “beautiful mouth”.

Hiện tại cát tường là giống hoa được người tiêu dùng rất ưa chuộng và đang được sản xuất làm hoa thương phẩm. Hoa cát tường được sản xuất nhiều ở Đà Lạt vì điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây rất phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của nó. Ngoài ra, cát tường còn được coi là hoa chủ lực và làm lên thương hiệu nhiều vườn hoa như vườn hoa Lang Biang Farm.... Tại đây, với diện tích trồng hoa 6ha thì trồng hoa cát tường là chủ yếu đã cho những cành hoa thân cao, hoa lớn. Đó chính là điểm mạnh đưa hoa cát tường của Lang Biang Farm không chỉ nổi tiếng ở Đà Lạt mà cả ở TP. Hồ Chí Minh.

ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG.

Hoa cát tường phát triển tốt ở điều kiện 70 - 80 Klux ánh sáng tự nhiên. Do vậy vào mùa xuân hay mùa hè có cường độ ánh sáng cao nên thường phải che lưới cho hoa. Hoa cát tường thích hợp với vụ dài ngày, có số giờ chiếu sáng trong ngày tối ưu là 16 giờ trong ngày thì sẽ cho chất lượng bông cao nhất.

Nhiệt độ tối thích cho hoa cát tường sinh trưởng và phát triển là từ 18 – 20oC vào ban ngày và 15 – 18oC vào ban đêm. Nhiệt độ vào ban đêm thấp hơn 15oC sẽ làm trì trệ quá trình sinh trưởng của cây. Vào ban ngày, khi nhiệt độ cao hơn 28oC sẽ làm cho hoa nở sớm, rút ngắn quá trình sinh trưởng của hoa và cho hoa kém chất lượng. Tùy theo từng chủng loại giống mà có yêu cầu về nhiệt độ và quang chu kỳ khác nhau, do vậy trước khi trồng nên tìm hiểu chủng loại giống mà bố trí mùa vụ thích hợp.

http://www.hort.net/images/gallery/jpg-wm/gen/lisrufb40.jpg

Tính cả thời gian từ lúc gieo hạt cho đến khi cây ra hoa là từ 20 – 23 tuần.

Phân loại hoa cát tường.

Giống hoa cát tường gồm có hai loại: Giống hoa kép và hoa đơn.

1.Giống hoa kép:

http://farm2.static.flickr.com/1079/1459914959_90c8d71b1a.jpg?v=0

- Nhóm Avilia: nhóm này thích hợp ở điều kiện ánh sáng yếu và nhiệt độ mát. Do vậy nhóm giống này thường trồng vào vụ đông. Các màu thường là trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen, đỏ tía.

- Nhóm Balboa: nhóm này thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sáng cao hơn. Thích hợp trồng vụ xuân đến hè. Phát triển tốt ở điều kiện quang chu kỳ ngày dài. Các màu thường là xanh, viền xanh, xanh tía.

- Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện ngày dài và thời tiết ấm áp. Các màu thường là xanh tía và màu vàng.

- Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu kỳ ngày ngắn. Nhóm này cho hoa nở đồng loạt và có nhiều màu để chọn lựa.

- Nhóm Echo: Nhóm này là nhóm phổ biến trong giống hoa cát tường. Không thích hợp với cường độ ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho vụ đông xuân. Các màu phổ biến trong giống này là xanh bóng, xanh tía, hồng, hồng tía, trắng tuyền.

- Nhóm Mariachi: Nhóm này thích hợp trồng trong chậu. Đặc điểm giống này là có số cánh hoa nhiều, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên nhìn rất đẹp. Các màu phổ biến trong giống này là trắng, hồng, hồng nhạt, xanh…

2. Giống hoa đơn:

http://farm3.static.flickr.com/2348/2209300101_62b1e8df5f.jpg?v=0

- Nhóm Flamenco: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ ngày dài. Thân hoa dài và mạnh. Các màu là xanh bóng, hồng, vàng, trắng.

- Nhóm Heidi: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu kỳ ngày ngắn. Có nhiều màu để chọn lựa.

- Nhóm Laguna: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ ngày dài. Thân hoa dài khoảng 48 cm, một cây trung bình có ba thân và 25 nụ hoa. Có hai màu là xanh đậm và xanh tía.

- Nhóm Malibu: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và trong mùa xuân và mùa thu. Có nhiều màu là hoa cà, xanh đậm, trắng, hồng, trắng viền xanh.

- Nhóm Yodel: Thân hoa dài khoảng 45 - 50cm. Có nhiều màu là xanh đậm, xanh, hoa cà, hồng phấn, hồng, trắng.

(Sưu tầm trên internet)

http://hflp.sdstate.edu/ho311/outdoor_images/Eustoma%20grandiflorum.jpg http://botany.cs.tamu.edu/FLORA/dcs420/mi05/mi05012.jpg

http://www.flc.co.il/flowers/Lisianthus%20Purple.jpg