Subscribe

RSS Feed (xml)

Powered By

Skin Design:
Free Blogger Skins

Powered by Blogger

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS - CHƯƠNG 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG KHÁC


3.1. Mặt trời
Mặt trời là một biểu tượng phổ biến trong nhiều nền văn hóa, ý nghĩa tượng trưng của nó rất đa dạng. Nếu tự nó không phải một vị thần thì trong nhiều dân tộc, mặt trời cũng được coi như một biểu tượng của thần linh, là hiện thân của trời. Nó còn được quan niệm như con trai của thần tối cao, là anh em của cầu vồng. Mặt trời là biểu tượng cho sự bất tử, người dẫn linh hồn, là trí tuệ của thế giới, cội nguồn của ánh sáng, sức nóng và sự sống. Nó còn là biểu tượng cho công lý.
Không chỉ đem lại sự sống, mặt trời còn chiếu rọi vạn vật, làm sự vật hiển hiện dưới ánh sáng của nó. Ánh nắng không chỉ soi tỏ bề ngoài, mà còn chiếu sáng cái bản chất, cái bên trong. Nó không chỉ khiến mọi vật hiện lên rõ mồn một trước các giác quan của con người, mà nó còn thể hiện sự khai triển từ điểm khởi nguyên. Trong đạo Hindu, mặt trời được nhìn nhận là nguồn gốc của mọi cái tồn tại, là khởi nguyên và cũng là chung cục của mọi dạng biểu hiện.
Tuy nhiên, dưới một dạng vẻ khác, mặt trời cũng là kẻ phá hoại, là bản nguyên của sự khô hạn. Vậy nên, ở Trung Quốc, chín mặt trời dư thừa đã bị Hậu Nghệ bắn gục. Đôi khi, những nghi lễ cầu mưa - như ở Campuchia - bao gồm việc giết tế một con vật có tính thái dương.
Camus đã kế thừa những nét ý nghĩa của biểu tượng mặt trời trong văn hóa, nhưng ông cũng dựa trên những kinh nghiệm của mình để mang đến cho mặt trời và ánh nắng những nét mới.
Mặt trời, trong các tác phẩm của Camus, làm cho mọi thứ hóa ra những hình ảnh hỗn loạn, không nằm trong ý thức của con người. Con người như bị hôn mê đi dưới ảnh hưởng thôi miên của con mắt vĩ đại treo trên cao kia. Hay có khi ngược lại, chính trong lúc bị mặt trời thôi miên ấy mà con người nhìn ra những sự thật của đời sống, những sự thật không bị những ảo tưởng đời che chắn khiến cho chúng thường mang dáng dấp của những mộng ảo thật trong mắt người. Camus đã từng gọi đó là “bài học của mặt trời [2,165]”.
Chính mặt trời đã khiến cuộc sống của con người trở nên tù túng, ngột ngạt, phi nhân; khiến không gian sống của con người trở thành chốn lưu đày. Con người không còn là mình nữa.
Có thể nói, ý nghĩa biểu tượng của mặt trời được thể hiện rõ nét nhất trong tiểu thuyết đầu tiên được xuất bản của Camus. Trong Người xa lạ, mặt trời cũng là một nhân vật, đóng vai trò là hiện thân của định mệnh. Trong đám tang của người mẹ, ánh sáng mặt trời chói chang đã khiến Meursault bị bủa vây trong cái gọi là “không có lối thoát nào khác” [12,274]. Trên bãi biển mà Meursault đã bắn chết người Ả rập, cả “một đại dương kim khí sôi sùng sục” [12,306] đã khiến Meursault không còn kiểm soát được mình nữa, anh ta trở nên u mê, nặng nề, bị thúc ép; anh ta bắt đầu hành động một cách vô thức và tự mình gõ vào cánh cửa định mệnh.
Để hiểu rõ hơn về biểu tượng mặt trời trong tác phẩm Người xa lạ của Albert Camus, chúng tôi sẽ tập trung phân tích đoạn văn cuối cùng của phần I, Người xa lạ được chia thành hai phần rất rõ ràng, trong đó toàn bộ phần I được viết bằng lối viết nhật kí, luôn có sự xác định rõ ràng hôm nay - hôm qua, các sự kiện được kể lại một cách khách quan mang tính thống kê, đôi khi mang lại cảm giác dài dòng, buồn tẻ. Trong đoạn văn cuối cùng của phần I , các sự việc cũng được kể lại một cách tuần tự theo trình tự diễn biến của nó. Thời của động từ mà Camus sử dụng trong đoạn văn là thời quá khứ, nhưng có quá khứ gần, quá khứ xa. Mặc dù các sự việc được kể lại tuần tự theo trình tự diễn biến của nó, nhưng trong đoạn văn vẫn có sự đan xen giữa hiện tại, quá khứ và tương lai (Lẽ tất nhiên, hiện tại ở đây cũng là hiện tại của quá khứ đã xảy ra, vì toàn bộ câu chuyện là lời kể lại của nhân vật).
Thời gian trong hiện tại là một buổi trưa hè với cái nắng gay gắt, bỏng rát, chi phối toàn bộ hành động của nhân vật. Có thể thấy, gần như tất cả các động từ chia ở thời quá khứ tiếp diễn trong đoạn văn này đều gây cho người đọc một cảm giác nặng nề, khó chịu. Cái sự tiếp diễn của hành động ấy như một tấm lưới bao vây nhân vật - và cả người đọc - trong một không gian tù túng, chật hẹp, bức bối. Cái nắng bỏng rát đốt cháy hai má, cái trán khổ sở và những mạch máu rần rật dưới da, đôi mắt mờ đi, cái nắng gõ như thanh la trên trán và lưỡi kiếm cháy bỏng gặm nhấm lông mi và sục vào đôi mắt đau nhói của nhân vật… Tất cả những hành động ấy thực chất là một cực hình, một cực hình mà thiên nhiên đã bắt Meursault phải hứng chịu. Và lẽ tất nhiên, đã là một cực hình thì nó phải được tiến hành một cách dai dắng, không ngừng: Tưởng như tất cả những sự bức bối, khó chịu ấy ngày càng chồng chất, càng dày đặc, khiến cho Meursault như mụ đi, như u mê và dần yếu đuối đến độ không còn sức chống đỡ. Chỉ một đoạn văn ngắn, nhưng đã có đến sáu từ mặt trời (soleil). Cũng vì thế, người đọc hoàn toàn có thể tưởng tượng ra được tâm trạng và cung cách ứng xử của Meursault trong suốt khoảng thời gian đã bị tỉnh lược: “La gâchette a cédé…” Đây là một câu bị động, “cò súng đã nhượng bộ”, hay nếu có thể diễn ra theo cách hiểu thông thường của người Việt - cuối cùng thì cò súng cũng đã nhượng bộ. Nếu đọc kĩ Người xa lạ, có thể khẳng định rằng suốt một thời gian dài - hay nói đúng hơn là trong phần lớn cuộc đời - nhân vật Meursault là một kẻ bị động, anh ta bị động trước những người khác, anh ta bị động trước nhịp sống máy móc, trước cái phi lí hàng ngày, và, đặc biệt, anh ta bị động trước những chi phối của thiên nhiên, anh ta như một con rối trong bàn tay số phận. Cái “cò súng đã nhượng bộ” ở đây cũng chính là thể hiện một sự bị động đến bi kịch. Khi cái cò súng ấy nhượng bộ, nó sẽ buộc phải nhả ra những phát đạn oan nghiệt kết thúc ngay lập tức cuộc đời của người A Rập và kết thúc một cách chậm rãi, từ từ cuộc đời của nhân vật chính, chủ nhân tạm thời của khẩu súng bị động đó. Rõ ràng, tưởng như Meursault hoàn toàn có quyền chủ động bắn hay không bắn, vì anh ta là người cầm súng, ngón tay anh ta đặt trên cò súng, nhưng thật ra lại không phải như vậy. Cò súng bị động và anh ta cũng bị động. Nhưng, “cò súng đã nhượng bộ”… Vậy, nó đã nhượng bộ cái gì? Không phải Meursault, người cầm súng. Vậy thì ai/cái gì mới là kẻ chủ động? Cái nóng? Ánh nắng? Cái phi lí? Hay chính cái định mệnh cuộc đời? Dù sao thì cuối cùng nó cũng đã phải chịu nhượng bộ. Và sự tỉnh lược thời gian ở đây mang lại cho ta giả thiết về cả một quá trình đấu tranh - không phải không có phần quyết liệt. Trước khi nhượng bộ, lẽ tất nhiên cái cò súng đã phải có một khoảng thời gian nhất định, có thể ngắn có thể dài, để từ chối, để chống lại cái định mệnh khắc nghiệt ấy, chống lại sự thôi thúc dồn dập, nặng nề của ánh nắng chói chang, của cái nóng như thiêu đốt, chống lại cả sự bất lực của chính mình.
Để hiểu hơn về sự bị động của nhân vật, ta có thể dừng lại lâu hơn ở khoảng thời gian hồi cố: “C'était le même soleil que le jour où j'avais enterré maman et, comme alors, le front surtout me faisait mal et toutes ses veines battaient ensemble sous la peau” (Chính vẫn là vầng mặt trời vào cái ngày tôi đưa tang mẹ và, cũng như khi đó, vầng trán hành hạ tôi nhất, dường như toàn bộ các mạch máu của nó đều rần rật dưới làn da). Meursault đã nhấn mạnh: Chính vẫn là vầng mặt trời ngày anh ta đưa tang mẹ. Không phải là giống như vầng mặt trời đó, cũng không phải cái mặt trời nào đó, mà chính vẫn là (le même soleil) vầng mặt trời đó. Đặt đoạn văn này trong cấu trúc chặt chẽ của toàn tác phẩm, sẽ hiểu được vì sao Meursault lại nhấn mạnh cái mặt trời đấy như vậy. Ngày Meursault tham dự đám tang của mẹ và ngày anh ta giết chết người A rập là hai mốc thời gian quan trọng nhất quyết định cuộc đời của anh ta sau này. Meursault bị kết án tử hình vì nguyên nhân trực tiếp là đã giết chết người A Rập trên bãi biển, nhưng chủ yếu là vì nguyên nhân gián tiếp - đã “không khóc tại lễ tang của mẹ”. Cả hai thời điểm đó đều vào những ngày nắng to, cái nóng dường như khó chịu hơn bao giờ hết, nặng nề và phi nhân hơn bao giờ hết. Chình vì vậy, ở đây, sự hồi cố của nhân vật dường như gợi đến sự lặp lại của định mệnh. Dường như thời gian đã quay ngược trở lại, để cũng chính trong cái ánh sáng của vầng mặt trời đó, trong cái nóng ấy, cái sự bức bối và bị động ấy, nhân vật, không thể tránh, lại thực hiện một hành động sai lầm. Ta có thể, trong đoạn văn cuối cùng này có sự kéo dài của thời gian: quá khứ (ngày đưa tang mẹ, được gợi nhớ bằng cái nắng nóng mùa hè) - hiện tại (ngày chủ nhật bức bối và nhân vật chính đã bắn chết người A rập) - tương lai (cõi bất hạnh bắt nguồn từ thái độ thờ ơ ngày đưa tang mẹ và cái chết của người A rập). Câu kết thúc phần I: “Và đó tựa như bốn tiếng đập ngắn ngủi mà tôi đã gõ lên cánh cửa của bất hạnh” (Et c’était comme quatre coups brefs que je frappais sur la porte du malheur) đã cho thấy rõ cõi bất hạnh đó chính là tương lai đã - và đang - được đoán trước. Nó đã bắt đầu và sẽ còn tiếp tục kéo dài. Cái bất hạnh đã được định hình và sẽ càng lúc càng rõ ràng hơn. Điều đó không chỉ là dự đoán của Meursault mà đã được khẳng định từ tất cả những gì đã và vẫn đang xảy ra. Và Meursault hiểu rất rõ điều đó: “J'ai compris que j'avais détruit l'équilibre du jour, le silence exceptionnel d'une plage où j'avais été heureux” (Tôi đã hiểu rằng tôi đã phá hủy sự thăng bằng của ngày, [phá hủy] sự yên tĩnh đặc biệt của bãi biển nơi tôi đã từng hạnh phúc). Vậy là, trước mắt Meursault là cả một khoảng thời gian dài đằng đẵng, không thể nào đoán định trước được gì ngoài cái bất hạnh hiển nhiên. Và dường như vẫn có sự báo trước về sự dai dẳng của định mệnh, về sự đeo bám của vầng mặt trời và cái nóng nghiệt ngã.
Cái oi bức đó, sự dữ dội đó của mặt trời - trong không gian bức bối của tòa án và sự ngột ngạt của nhà tù - càng khiến cho Meursault trở nên bé nhỏ, cô độc và càng khiến anh ta không có lối thoát nào khác. Anh ta xa lạ với những người tham gia phiên tòa, anh ta trở thành một kẻ ngoài cuộc đối với sự phán xử số phận của chính anh ta. Sự sống của anh ta bị quyết định, một phần do mặt trời, một phần do kẻ khác - những kẻ nhân danh “công lí của con người”. Đối với cái công lí đó, Meursault là một tội nhân - anh ta bị kết tội “đã chôn mẹ mình với trái tim của kẻ tội phạm” [12,333] - nhưng đồng thời, anh ta cũng là nạn nhân của chính nó. Anh ta bị cô lập, bị gạt bỏ và cuối cùng bị kết án. Anh ta đã bị biến thành một người xa lạ; một kẻ ngoài cuộc. Chỉ đến khi bị cách li khỏi cái nắng chói chang thường trực đó, chỉ khi anh ta trở nên chủ động trong hành động và nhận thức, chỉ khi đó anh ta mới không còn bị ám ảnh bởi cái mặt trời phi nhân ấy nữa. Nói một cách khác, do không phải chịu sức ép thường xuyên của mặt trời, anh ta mới dần dần làm chủ được mình; và cũng chính vì làm chủ được mình, anh ta không còn bị mặt trời thao túng nữa.
Mặt trời, trong Người xa lạ, còn mang một ý nghĩa biểu tượng khác. Như Camus đã nói, Meursault là kẻ “yêu ánh mặt trời không có bóng mây che” - ánh mặt trời phơi bày sự thật. Chính mặt trời đã soi thấu và bộc lộ đến từng ngóc ngách trong cuộc đời phi lí và con người phi lí của Meursault, chính sự ám ảnh của mặt trời đối với anh ta đã khiến Camus phải nhận xét anh ta là một con người sẵn sàng chết cho sự thật. Có lẽ, hành động chết cho sự thật ở đây không mang ý nghĩa cao cả như trong quan niệm thông thường. Meursault đã chết vì anh ta nói thật, nhưng cái chết của anh ta không phải để tuyên dương sự thật, không phải để vinh danh sự thật. Anh ta đã chết vì anh ta chọn một lối sống mà người ta phải ghi nhớ một bài học đắt giá từ cái phi lí của cuộc đời: “Người ta đừng có bao giờ đóng kịch” [12,321].
Meursault đã trung thành với lối sống đó cho đến phút cuối cùng. Suốt từ đầu tác phẩm, Meursault đã luôn nói thật những gì mình nghĩ, mình cảm thấy. Cái tính thật đó, nhiều khi, đã biến anh ta thành con người lạnh lùng, tàn nhẫn, một kẻ tội phạm - dù cho anh ta không thật hiểu những từ này.
Đến khi bị bắt vào tù và phải đứng trước vành móng ngựa, khi bị bắt buộc phải chọn giữa nói dối để được sống và nói thật để mà phải chết, anh ta đã chọn việc nói thật. Anh ta đã được biết về những bất lợi mà quyết định đó mang đến cho anh ta. Anh ta cũng khao khát được sống, được tự do. Anh ta cũng mơ ước có thể kháng án thành công. Nhưng, cái tự do mà anh ta mơ ước đó là cái tự do trong khi vẫn không hề đóng kịch. Tuy nhiên, thật ra, Meursault không hề ý thức là mình có tội. Anh ta không nhận thấy rằng khi anh ta nói lên sự thực chính là khi anh ta đã khẳng định sự phạm tội của mình.
Còn khi đã nhận ra cuộc đời là phi lí thì đồng thời anh ta cũng nhận ra “cuộc đời không đáng sống” [12,347], nhận ra cái chết là một lẽ tất nhiên; và cũng chính khi đó, anh ta sẵn sàng sòng phẳng: “Người ta chỉ cho tôi biết rằng tôi là một tội phạm. Tôi phạm tội thì tôi phải trả giá, người ta không thể yêu cầu tôi gì hơn nữa” [12,350]. Và, khi chấp nhận điều đó, anh ta không cần phải nói dối để được sống.
Trong Dịch hạch, mặt trời không xuất hiện nhiều như trong Người xa lạ. Không những thế, không phải lần xuất hiện nào mặt trời cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Trong tổng số 24 lần xuất hiện của các hình ảnh “mặt trời”, “ánh mặt trời”, chỉ có mười ba lần mang ý nghĩa biểu tượng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ý nghĩa biểu tượng của nó không rõ ràng hay không sâu sắc. Suốt cả tiểu thuyết Dịch hạch, cái nóng bức của mặt trời đã ám ảnh cả thành phố Oran xấu xí và u buồn. Mặt trời đã cầm tù Oran trong sự ngột ngạt và tù túng, mặt trời kích thích mầm dịch lan tràn không kiểm soát được; và mặt trời khiến con người không còn tỉnh táo, vật vờ phó mặc cho những tháng ngày vô định. Cái mặt trời đó, như chính Camus đã xác định, không phải vầng mặt trời bình thường đã góp phần vào vẻ rực rỡ của thành phố bên bờ Địa Trung Hải - “giữa một cao nguyên trơ trụi, bốn phía là những ngọn đồi lấp lánh ánh nắng, trước một vũng đường nét tuyệt vời”, cũng không phải cái mặt trời mà người ta mong muốn sau khi đã phải chịu đựng quá đủ cái nóng ẩm ướt của mùa xuân. Đây là vầng mặt trời đã gieo xuống thành phố quá nhiều ánh sáng thừa thãi và khí hậu trở nên oi ả hơn, khiến người dân bắt đầu lờ mờ cảm thấy sự giam cầm đe dọa. Lúc này, mặt trời không còn là mặt trời của thiên nhiên nữa, mà đã thành mặt trời của dịch hạch, mặt trời của sự giam cầm, của bệnh tật, của tai họa: “Mặt trời dịch hạch dập tắt tất cả các sắc màu và xua đuổi mọi niềm vui” (Le soleil de la peste éteignait toutes les couleurs et faisait fuir toute joie [6,120]). Trong Dịch hạch, mặt trời dường như luôn song hành cùng dịch bệnh, bủa vây người dân ở mọi nơi. Người dân Oran không những phải chịu sự bức bối của cảnh cách ly, giam cầm và cảm giác ngột ngạt, bất an của cái chết lúc nào cũng lơ lửng trên đầu, mà họ còn phải đương đầu với sự oi ả, nóng bức, sự chói chang của vầng mặt trời bám theo họ đến từng góc phố, từng ngôi nhà. Xét theo nghĩa đen, chính cái nóng bức mà mặt trời mang lại cũng là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của dịch hạch. Ngày hè đầu tiên cũng đồng thời là ngày có số người chết vì dịch hạch tăng vọt. Mặt trời, nắng và nóng đổ ập xuống thành phố, bao vây người dân trong mọi ngõ ngách, săn đuổi họ đến tận những nơi tưởng như kín đáo nhất. Cả thành phố bị phó thác cho mặt trời và dịch hạch.

3.2. Dịch hạch

Từ trước tới nay, bệnh dịch luôn là một trong những hiểm họa đáng sợ nhất của loài người. Không những có sức hủy diệt khủng khiếp đối với sinh mạng và cuộc sống của rất nhiều người, bệnh dịch còn càng đáng sợ vì tính chất không thể dự đoán của nó. Lịch sử đã ghi nhận những nạn dịch lớn, những sát thủ toàn cầu mà có khi mỗi ngày giết chết tới cả chục nghìn nạn nhân. Vào thế kỷ thứ VI, dưới thời đại đế Justinian I, một nạn dịch hạch đã giết chết 40% dân số Constantinople (nay là Istanbul) và lan rộng khắp miền Đông Địa Trung Hải khiến một phần tư dân số khu vực bị thiệt mạng. Đến năm 588, lại xuất hiện một đại dịch hạch với mức độ nghiêm trọng hơn và lan tới tận nước Pháp, giết chết 25 triệu người. Đến thế kỷ XIV, đại dịch mang tên “Dịch hạch đen” cũng đã giết chết khoảng một phần tư dân số châu Âu (khoảng 25 triệu người).
Những thảm họa mà dịch hạch gây ra đã được sử dụng làm chất liệu trong rất nhiều tác phẩm văn học. Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai (Girl With a Pearl Earring) của Tracy Chevalier - tác phẩm best-seller năm 1999, được đề cử giải Orange năm 2000 - lấy bối cảnh thành Delft ở Hà Lan vào giữa thế kỉ XVII, với nạn dịch hạch hành dữ dội, với những số phận lay lắt, với những nhà thờ mênh mang lời cầu nguyện của con chiên… Để rồi, trên cái nền đau khổ và chết chóc đấy, trên cái nghiệt ngã của nạn dịch ấy, một mối tình kì diệu nhưng vô cùng ám ảnh đã nảy nở. Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Scott Westerfeld mới được xuất bản năm 2006, Những ngày cuối cùng (The Last Days), tác giả đã lấy bối cảnh thành phố New York thời hiện đại đang quay cuồng dưới một nạn dịch bí ẩn dẫn đến sự biến mất của hàng loạt người dân, lôi các nhân vật chính vào một cuộc đấu tranh tàn khốc có những khi tưởng như không còn lối thoát nào khác. Có thể nói, cốt truyện xoay quanh cuộc chiến đấu giữa một (hay nhiều) người hùng chống lại một nạn dịch, một căn bệnh bí ẩn nào đó càng ngày càng được các nhà văn, nhà thơ, và đặc biệt là các đạo diễn, các nhà sáng tác kịch bản ưa chuộng. Những tiểu thuyết như Tôi là huyền thoại (I Am Legend, 1954) của nhà văn Mỹ Richard Matheson, Thẩm mỹ viện (Salón de belleza, 1994) của nhà văn Mexico Mario Bellatin... đều sử dụng dịch hạch như biểu tượng cho cái ác, cho sự xói mòn đạo đức trong xã hội hiện đại. Một tác phẩm sử dụng biểu tượng dịch hạch nữa cũng rất đáng chú ý là Tiểu luận về bệnh mù (Ensaio sobre a Cegueira - tên tiếng Anh là Blindness, 1995) của José Saramago, nhà văn Bồ Đào Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1998. Câu chuyện trong tác phẩm này xảy ra tại một thành phố không xác định, khi một bệnh dịch bất thình lình kéo đến, gần như khiến tất cả người dân ở đây bị mù. Cũng tương tự như trong Dịch hạch của Camus, căn bệnh này càng ngày càng lan rộng và vượt ra ngoài tầm kiểm soát, người dân trong thành phố không tên này cũng bị cách li, phải sống trong hoang mang, hoảng sợ và tuyệt vọng. Mặc dù người dân đã dồn toàn lực chiến đấu với căn bệnh này, nhưng cuối cùng, cũng như tại Oran, không phải do nỗ lực của con người mà chính dịch hạch đã bất ngờ tự mình rút lui, dân chúng lại được khôi phục thị lực. Trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1998, Saramago đã gọi chứng mù mà những người dân trong thành phố không tên này mắc phải là “bệnh mù lẽ phải” (cegueire de razão). Nó cũng là một thứ dịch hạch tâm hồn - dịch hạch tinh thần như trong tiểu thuyết của Albert Camus.
Mặc dù có khá nhiều tác phẩm văn học sử dụng biểu tượng dịch hạch, nhưng giới nghiên cứu đa phần đều coi Dịch hạch của Albert Camus là tác phẩm thuộc hàng tiêu biểu nhất. Dịch hạch cũng là biểu tượng có tần số xuất hiện cao nhất trong các biểu tượng mà Camus sử dụng trong tiểu thuyết của mình. Tính riêng trong Dịch hạch, đã có đến 402 lần tác giả nhắc đến từ “dịch hạch” (la peste), “dịch bệnh” (l’épidémie) và đại từ “elle” thay thế cho hai từ này. Còn trong các tác phẩm khác, hầu như tác phẩm nào Camus cũng đều ít nhiều đề cập đến cái dịch hạch tâm hồn hay dịch hạch tinh thần.
Về tiểu thuyết Dịch hạch, Camus đã phát biểu: “Thông qua dịch hạch, tôi muốn thể hiện sự ngột ngạt mà tất cả chúng ta đã phải chịu đựng, cũng như thể hiện cái không khí đe dọa và lưu đày mà trong đó chúng ta đã trải qua. Đồng thời, tôi cũng muốn mở rộng sự lí giải này cho khái niệm về sự tồn tại của loài người nói chung” (dẫn theo [36,76]).
Đặt Dịch hạch trong tình hình lịch sử những năm 40 đầu thế kỉ XX, có thể thấy Oran chính là hình ảnh thu nhỏ của thế giới và dịch hạch mang ý nghĩa biểu tượng lớn hơn là một dịch bệnh thông thường. Nó là biểu tượng của chiến tranh, của nạn phát xít, khủng bố, của máu và nước mắt. Nó đã huỷ diệt bao xóm bao thôn, đã phá tan bao gia đình yên ấm, đã tước đi thanh bình, hạnh phúc và sự sống của biết bao người. Cho dù nó có qua đi thì những hậu quả mà nó để lại chẳng bao giờ xóa hết, những vết thương mà nó gây ra có lẽ mãi mãi chẳng bao giờ lành, những đổ vỡ có thể là vĩnh viễn. Nó kìm hãm sự phát triển của thế giới. Nó cầm tù cả nhân loại trong đau thương, chết chóc và mất mát. Nó gieo vào lòng người những mầm mống của một thứ dịch hạch trong tâm hồn - một thứ dịch hạch vĩnh viễn không thể chết.
Trong suốt thời gian viết Dịch hạch, Camus đã thấu hiểu sâu sắc những dịch hạch mang tính biểu tượng: chiến tranh, chủ nghĩa phát xít, sự kì thị chủng tộc… cũng như những hiệu quả mà nó gây ra: nỗi đau, sự chia li. Camus đã tận mắt chứng kiến bạn bè của mình phải chịu sự khủng bố của nạn kì thị chủng tộc, ông đã thật sự thấu hiểu sự cô đơn, hoang mang và bất hạnh của những người dân Do Thái (không phải đến khi Đức chiếm đóng thành phố mà từ trước đó, sự kì thị đối với những người Do Thái đã tồn tại trong Oran). Cũng vào thời kì sống ở Oran này, việc dạy học đã khiến Camus không có thời gian ra ngoài hay đi du lịch, ngay cả đến việc đọc một quyển sách cũng rất khó khăn. Đối với ông, mỗi ngày đều dài dằng dặc và nặng nề, ông thật sự cảm thấy rất cô đơn. Sau đó, ông lại bị bệnh lao hành hạ. Vừa chịu nỗi đau thể xác, Camus vừa phải chịu đựng những đau đớn về mặt tinh thần, khi chiến tranh buộc ông phải xa cách gia đình. Cô đơn, không tiền bạc, đối diện với mùa đông đang đến gần, đứng trước sự chiếm đóng và tàn sát của quân phát xít, Camus đã thực sự trở thành một tù nhân trong thành phố dịch hạch.
Đối diện với dịch hạch, con người phải đồng thời đối diện với cái chết, nỗi đau, sự mất mát, sự phi lí và cũng đồng thời đối diện với dịch hạch hình thành trong chính tâm hồn mình.
Với Tarrou, “tất cả chúng ta đều ở trong tình trạng dịch hạch”, “mỗi người đều mang mầm mống dịch hạch trong mình”. Chính anh ta tự nhận: “tôi vẫn là một kẻ mang mầm mống dịch hạch tuy một mực đinh ninh là chính mình chống lại dịch hạch” [1,329]. Cái dịch hạch mà anh ta nhiễm phải đó là “tôi biết mình đã gián tiếp đồng tình với cái chết của hàng nghìn con người, thậm chí đã gây ra chết chóc vì công nhận là tốt những hành vi và nguyên tắc tất yếu đem lại cái chết” [1,327]. Dĩ nhiên, về vấn đề này, Tarrou đã tỏ ra khá cực đoan. Nhưng, anh ta đã đúng khi nhận thấy trong mỗi con người đều ẩn tàng mầm mống dịch hạch.
Và, trong cuộc đấu tranh với dịch bệnh của tự nhiên, Tarrou và cả Rieux đã phải đối diện với một thứ dịch hạch khác: dịch hạch của tâm hồn. Đó chính là “sự thờ ơ khó chịu bắt đầu dâng lên trong lòng”, “ánh mắt trống rỗng” và “con tim mình dần dần khép kín lại” [1,123]. Dịch hạch đã khiến cho Rieux không còn nhạy cảm, không còn rung động, không còn xót thương được nữa. Trái tim ông khô cần đi, cử chỉ máy móc hơn. Và ông đã từ địa vị của một cứu tinh trở thành một người không có trái tim.
Dịch hạch đến và đi bất ngờ và không gì kiểm soát được. Nó thách thức mọi cuộc đấu tranh, thách thức mọi niềm tin và hi vọng. Nó khiến cho Rieux trở lại nguyên vẹn với tư tưởng hiện sinh: “Vi trùng dịch hạch không bao giờ chết và mất hẳn. Nó có thể nằm yên lặng hàng chục năm trong đồ đạc, quần áo, nó kiên nhẫn đợi chờ trong các căn buồng, dưới hầm nhà, trong hòm xiểng, trong khăn mùi xoa và các đống giấy má và một ngày nào đó để gây ra tai họa cho mọi người và dạy họ bài học, dịch hạch có thể đánh thức đàn chuột của nó dậy, và bắt chúng chạy đến lăn ra chết ở một đô thành nào đó đang sống hạnh phúc và phồn vinh" [1,319].
Dịch hạch là biểu tượng chủ đạo trong tác phẩm cùng tên của Albert Camus, và có thể thấy tư tưởng về “dịch hạch tâm hồn” đã xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm của ông. Ngay trong Người xa lạ, sự xa lạ của Meursault hẳn nhiên cũng có thể được coi như một thứ dịch hạch.
Đặc biệt trong Sa đọa, cái “dịch hạch tâm hồn” càng được thể hiện rõ nét qua nhân vật Clamence, kẻ đã sống một cuộc sống giả dối, hai mặt, ám ảnh. Kể từ những lúc ở trên tột đỉnh vinh quang cho tới khi chìm dưới tận đáy sâu của sự sa đọa, anh ta không bao giờ rời xa cái mặt nạ của mình, anh ta không hề từ bỏ cái vai trò “kịch sĩ” mà vốn đã trở thành bản năng của anh ta. Trong Sa đọa, Clamence đã hiện lên rõ ràng là một kẻ ích kỉ, đạo đức giả, bị ám ảnh bởi ham muốn thống trị, giống như một nhân vật trong truyện ngắn Kẻ phản bội hay một linh hồn bối rối: “hùng mạnh, đúng thế, chính đấy là cái từ mà tôi nghiền ngẫm trên đầu lưỡi tôi. Tôi ước mơ đạt được quyền lực tuyệt đối, cái quyền lực bắt mọi kẻ khác phải quì gối, bắt đối thủ phải qui hàng” [3,51]. Cái ước mơ bắt kẻ khác phải quì gối đó đã khiến Clamence trở nên tàn nhẫn, thành một kẻ đê tiện. Anh ta chinh phục và rồi ruồng rẫy một người phụ nữ chỉ để xoa dịu lòng tự ái của mình; anh ta trở thành Don Juan đối với không biết bao phụ nữ trong khi trói buộc họ bởi lời thề chung thủy.
Clamence luôn cố gắng tỏ ra là một con người đạo đức, nhún nhường, từ tốn, nhưng tất cả chỉ nỗ lực của anh ta thực ra chỉ để đạt đến một điều: thỏa mãn chính mình. Anh ta quan tâm đến mọi người, làm từ thiện v.v. nhưng thật ra anh ta chỉ quan tâm đến cá nhân mình. Tưởng như anh ta hành động vì người khác, nhưng thực chất là vì cái Tôi của mình. Anh ta xếp mình đứng cao hơn tất cả và vì thế, tự tách mình ra khỏi mọi người. Chính khát khao thống trị đó, thái độ tôn sùng bản thân và mong muốn thỏa mãn chính mình đó là một thứ dịch hạch tâm hồn đã khiến Clamence phải đóng kịch ngay cả trong khi sám hối.

3.3. Tiếng cười
Tiếng cười (le rire) là biểu tượng chỉ xuất hiện trong một tác phẩm của Camus - Sa đọa, và xuất hiện tổng cộng chín lần. Để tiện theo dõi, chúng tôi đã thống kê và trình bày tóm lược về sáu tiếng cười xuất hiện trực tiếp (là những tiếng cười mà Clamence nghe thấy; và lần lượt được chúng tôi xác định là C1, C2, C3, C4, C5, C6) qua bảng mô tả dưới đây.



Khảo sát tiếng cười trong tác phẩm
Tiếng
cười C1
C2
C3
C4
C5
C6

Địa điểm Trên cầu Nghệ thuật Dưới cầu Seine Trong nhà riêng Không xác định
Vị trí Sau lưng Dưới cửa sổ Từ trong bụng Bao vây xung quanh Từ chốn xa xăm
Thời gian Đêm thu dịu mát Không xác định Những đêm thật sự tuyệt vời
Tâm trạng Thỏa mãn về mình Phân vân suy nghĩ Nhớ đến người tình Tan vỡ ảo mộng về mình Cảm giác thống trị
Chủ thể Không xác định Bọn trẻ Chính mình Toàn thể vũ trụ Không xác định
Đặc điểm (không xác định) Trôi xa theo dòng nước Vui vẻ rộn ràng Tương tự trên cầu Nghệ thuật (Không xác định)
Thật thà, hồn nhiên, gần như thân thiện
Phản ứng của Clamence Sửng sốt, trở mình đột ngột Đánh trống ngực dồn hồi Khép cửa sổ, nhún vai - Cười sự biện hộ của mình
- Nhận ra sự ích kỉ và giả dối của mình - Không đủ sức chịu đựng
- Thấy bị xét xử vì những hạnh phúc đã qua Hoài nghi trở lại
Nhận ra tính hai mặt của mình


Qua bảng miêu tả tiếng cười trong tác phẩm, chúng tôi nhận thấy mặc dù xuất hiện bảy lần với những đặc điểm vị trí, địa điểm, tâm trạng và thời điểm khác nhau; nhưng tóm gọn lại, tiếng cười trong Sa đọa chỉ có hai giọng điệu chính: tiếng cười cảnh tỉnh (bao gồm C1, C2, C3) và tiếng cười xét xử (gồm C4, C5, C6).
Có thể nói, cuộc đời Clamence như được chia thành hai giai đoạn: trước và sau khi ý thức được sự hai mặt của mình. Ở khoảng giữa hai giai đoạn đó, hay bước đệm từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 được hình thành trên ba sự kiện quan trọng: tiếng cười trên cầu (C1, C2, C3), vụ lộn xộn ở đoạn đèn giao thông và cái chết của người phụ nữ trên sông Seine. Cả ba sự kiện, với mức độ đậm nhạt khác nhau, đã trực tiếp ảnh hưởng đến tâm lí Clamence, kéo anh ta trượt dài theo cái dốc của sự sụp đổ. Anh ta bắt đầu bị ám ảnh, sám hối và tự lưu đày mình. Trong ba sự kiện, tiếng cười trên cầu đóng vai trò hồi chuông thức tỉnh, réo gọi nhận thức của anh ta, vụ lộn xộn khiến anh ta nhận ra mặt trái của hình ảnh đầy vinh quang sáng lạn; còn cái chết của người phụ nữ mà anh ta không dám cứu, không dám nhờ người khác cứu đã khiến anh ta bị ám ảnh bởi cảm giác tội lỗi. Ba sự kiện này cũng quan hệ mật thiết với nhau, trong đó tiếng cười đóng vai trò như chiếc cầu nối, làm sống dậy hai sự kiện kia.
Tiếng cười C1, C2, C3 - tiếng cười cảnh tỉnh - xuất hiện liên tiếp trong một buổi tối. Những tiếng cười này xuất hiện đúng trong thời kì Clamence đang ở trên đỉnh cao thành công và thỏa mãn với những vinh quang của chính mình. Anh ta đang là một kẻ thống trị, người chiến thắng, một Giáo hoàng, một Đức Chúa Cha. Anh ta đã xây dựng được cho mình hình ảnh một con người hoàn hảo: một luật sư tài năng, một người tình nồng nhiệt, một người đàn ông lịch lãm, một con người hào hiệp, khiêm nhường và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Anh ta đạt được thành công trên mọi lĩnh vực: sự nghiệp, ái tình và thỏa mãn chính mình. Lương tâm anh ta được yên bằng, tâm hồn anh ta được thư thái và vui vẻ. Anh ta luôn tự tin vào chính mình và hoàn thành xuất sắc mọi kế hoạch đã đề ra. Rồi đến đêm thu đó, Clamence đi dạo trên cầu Nghệ thuật, lòng phơi phới hân hoan vì cảm thấy mình thật hùng mạnh, thật hoàn hảo. Chính trong lúc đang vô cùng tự thỏa mãn về mình đó, anh ta đột nhiên nghe thấy tiếng cười ré lên sau lưng. Tiếng cười vang lên giữa bốn bề tịch lặng, không một bóng người. Rồi, tiếng cười C2 lại xuất hiện ngay sau đó, vẫn ở sau lưng, nhưng lần này dường như cách xa hơn một chút, tựa như xuôi theo dòng nước, không thể biết đích xác nó xuất phát từ chỗ nào. Clamence sửng sốt giật mình, tim đập thình thịch. Tuy nhiên, anh ta lại tự biện hộ, tự cho rằng tiếng cười đó chẳng có gì huyền bí, mà rất thật thà, hồn nhiên, thân thiện, thậm chí anh ta còn chẳng nghe thấy rõ. Nhưng, lần thứ ba, tiếng cười lại xuất hiện, vang lên từ dưới cửa sổ nhà anh ta. Lần này, tiếng cười quả thật dường như hoàn toàn không có gì huyền bí. Nó có điểm xuất phát - ngay dưới cửa sổ, có chủ thể - lũ trẻ đang chơi đùa, nó được xác định là tiếng cười vui vẻ rộn ràng của bọn trẻ trên đường phố; nhưng thật ra tiếng cười này xuất hiện chỉ như làm nhiệm vụ an ủi, lừa phỉnh Clamence. Tiếng cười C3 giúp anh ta cảm thấy tính vô hại của cái cười C1 và C2, nhưng thật ra đó cũng chỉ là một sự đóng kịch.
Tiếng cười C1 và C2 đều xuất hiện sau lưng, đầy huyền bí (dù anh ta phủ nhận); nó đến rồi đi một cách bất ngờ nhưng ám ảnh. Nó không chỉ xuất hiện một lần (nếu chỉ xuất hiện một lần, hẳn Clamence đã quên nó ngay), mà tắt rồi lại vang lên mạnh mẽ hơn, tràn ngập hơn nhưng cũng xa vời hơn, hư ảo hơn. Nó như sự cảnh báo dai dẳng bám đằng sau Clamence, để rồi có thể vụt xuất hiện ngay trong những lúc anh ta cảm thấy mãn nguyện nhất, hạnh phúc nhất, khi anh ta bay liệng trên những tầng cao của tự do và thống trị. Clamence không còn trốn chạy được nữa, anh ta đã phải nhận ra dường như cái cười mỉm của mình trong gương là cái cười mang hai mặt. Cuối cùng, anh ta đã phải kiểm điểm lại những hành vi của mình, để nhận ra bế trái trong con người mình. Ba tiếng cười trong một buổi tối đã trở thành tiếng chuông cảnh tỉnh, đã khiến Clamence nhận ra rốt cuộc anh ta chỉ là một kịch sĩ, anh ta làm tất cả để thỏa mãn cái tôi, thỏa mãn ham muốn thống trị của mình. Đến khi đã nhận ra tính hai mặt của mình, anh ta mới thấy những tiếng cười ấy bủa vây quanh mình. Tiếng cười ấy là biểu tượng cho sự phán xử của người khác đối với anh ta và cũng là sự phán xử của chính anh ta với bản thân mình.
Tiếng cười C4 này xuất phát từ trong bụng Clamence, hay nói cách khác, tiếng cười này là tiếng cười nội tâm. Đây chính là tiếng cười khiến anh ta nhớ lại một tiếng kêu khác, tiếng kêu của một người phụ nữ bị ngã từ trên cây cầu Hoàng Gia xuống dòng sông Seine trong đêm đông mưa gió lạnh lẽo.
Nhìn ở góc độ tâm lí, việc Clamence không lao xuống làn nước giá lạnh để cứu người phụ nữ có thể được lí giải là do sự hèn nhát mà bất kì người nào cũng có thể có. Nhưng cái tôi đóng kịch đã khiến anh ta không những không cứu mà cũng không tri hô cho ai biết. Nếu tri hô, người phụ nữ có thể được một người nào đó; Clamence sẽ đồng thời phải chịu hai sự thất bại: vừa thất bại trong cuộc tranh chấp để đứng cao hơn người khác. Anh ta đã gián tiếp cướp đi mạng sống của người phụ nữ đó. Trên thực tế anh ta không phạm tội, nhưng anh ta lại luôn cảm thấy bị xét xử (bởi chính mình). Anh ta không lúc nào cảm thấy thanh thản. Vừa muốn bị kết tội và đền tội, vừa muốn công khai tội lỗi của mình để không bị dằn vặt, ám ảnh; Clamence lại vừa không muốn để người khác biết những mặt trái của mình. Để rồi, bị giằng xé giữa hai điều đó, anh ta không tài nào thoát khỏi ám ảnh tội lỗi.
Mong muốn trốn chạy khỏi tiếng cười, Clamence ném mình vào một cuộc sống sa đọa, đàng điếm, tội lỗi, tối tăm: “Tôi sống trong một thứ trạng thái mịt mù khiến cho tiếng cười tắc nghẹn, đến nỗi cuối cùng tôi không còn nhận thấy nó nữa” (Je vivais dans une sorte de brouillard où le rire se faisait assourdi, au point que je finissais par ne plus le percevoir) [5,87]. Nhưng, rốt cuộc, tiếng cười dù có bị chặn bằng cách nào đi chăng nữa, thì nó vẫn không bao giờ chết hẳn. Cái cảm giác bị chế nhạo, bị phán xử, bị ám ảnh đó có thể ngủ yên trong đáy sâu kí ức của anh ra, nhưng sự bình yên anh ta nhận được chỉ là một sự bình yên giả trá; bởi vì khi dường như anh ta đã được tự do, được thanh thản, thì cảm giác đó lại trỗi dậy, mạnh mẽ hơn bao giờ hết, không cho phép anh ta quên quá khứ. Và, cuối cùng, anh ta cũng nhận ra rằng, “cái tiếng kêu, bao năm trước đã vang lên trên dòng Seine sau lưng tôi và được dòng sông cuốn ra ngoài biển Manche, không lúc nào ngừng trôi dạt khắp đại dương mênh mông vô tận, (nhận ra) rằng nó vẫn chờ đợi tôi ở nơi này cho tới ngày tôi gặp lại nó hôm nay. Tôi cũng hiểu rằng nó sẽ vẫn chờ đợi tôi trên biển cả và sông ngòi, tóm lại là ở bất cứ nơi đâu có thứ nước rửa tội của tôi” (… que ce cri qui, des années auparavant, avait retenti sur la Seine, derrière moi, n'avait pas cessé, porté par le fleuve vers les eaux de la Manche, de cheminer dans le monde, à travers l'étendue illimitée de l'Océan, et qu'il m'y avait attendu jusqu'à ce jour où je l'avais rencontré. Je compris aussi qu'il continuerait de m'attendre sur les mers et les fleuves, partout enfin où se trouverait l'eau amère de mon baptême.) [5,88]. Clamence không còn đường trốn chạy nữa, tiếng kêu của quá khứ, của tội lỗi đã sẵn sàng đón chờ anh ta trên mọi nẻo đường, tiếng cười chế nhạo, tiếng cười phán xử đã bủa vây anh ta, để rồi “một ngày nào đó, hay một đêm nào đó, tiếng cười vang lên mà không hề báo trước” (Un jour, ou une nuit, le rire éclate sans crier gare) [5,112].
Không thể giết chết tiếng cười, tất cả những gì Clamence có thể là “phải tìm một cách khác sao cho lời xét xử lan rộng ra trùm lên mọi người, để làm cho nó bớt đè nặng lên đôi vai của chính mình” (Il m’a donc fallu trouver un autre moyen d’étendre le jugement à tout le monde pour le rendre plus léger à mes propres épaules) [5,112]. Và, giải pháp anh ta tìm ra chính là trở thành quan tòa-sám hối, trở thành người sám hối phán xử chính mình để rồi cuối cùng có thể làm quan tòa phán xử kẻ khác. Cũng kể từ lúc tìm ra giải pháp đó, anh ta phó mặc bản thân mình cho tất cả - đàn bà, thói kiêu căng, sự sầu muộn, niềm oán hận.v.v. Anh ta đã trở thành kẻ thống trị, có thể xét xử tất cả mọi người. Cũng đôi khi, vào những đêm thật sự tuyệt diệu, Clamence lại nghe thấy tiếng cười vang lên từ chốn xa xăm nào đó, khiến anh ta hoài nghi trở lại. Nhưng, giờ đây, đã có vai trò quan tòa-sám hối làm tấm lá chắn, anh ta không còn ngần ngại gì nữa mà ngay lập tức nhấn chìm tất cả mọi sự dưới sức nặng của những nhược điểm của chính anh ta, và rồi anh ta lại bình phục như cũ.
Tuy nhiên, tiếng cười vẫn ở một nơi nào đó chờ đợi Clamence, vẫn luôn sẵn sàng để bất cứ khi nào anh ta cảm thấy tột cùng thỏa mãn về mình thì nó đều có thể xuất hiện, buộc anh ta nhìn lại con người hai mặt của mình. Tiếng cười ấy cũng chờ đợi tất cả mọi con-người-hai-mặt trên cái thế giới này, sẵn sàng buộc họ phải tự lưu đày mình.

Tiểu kết. Sự đa dạng và thống nhất của các hình ảnh biểu tượng
Có thể nói, một đặc điểm quan trọng hình thành phong cách nghệ thuật của Camus chính là tính biểu tượng. Có những biểu tượng - như tiếng cười - chỉ được sử dụng trong một tác phẩm riêng biệt, nhưng lại có những biểu tượng - như biển, mặt trời - được sử dụng trong nhiều tác phẩm với nét ý nghĩa tương đồng. Chính sự đa dạng và thống nhất này cũng là một đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Camus.

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS - KẾT LUẬN

1. Tính biểu tượng là một nét phong cách nghệ thuật độc đáo của Camus

Nếu đọc kĩ các tác phẩm của Albert Camus, người đọc có thể nhận thấy một đặc điểm khá thú vị, đó là Camus rất hay nói đến sự im lặng. Dường như mỗi nhân vật trong các tác phẩm của ông đều sống trong một hòn đảo im lặng nào đó. Và, có lẽ chính vì thế mà biểu tượng - thứ ngôn ngữ của sự im lặng - được Camus khai thác rất triệt để. Gần như trong bất kì tác phẩm nào, Camus cũng đều sử dụng biểu tượng, và các biểu tượng cũng được ông khai thác một cách phong phú về số lượng và đa dạng về ý nghĩa. Có những hình ảnh trong tác phẩm này thì giàu ý nghĩa biểu tượng, trong tác phẩm khác lại chỉ được sử dụng như một hình ảnh đơn thuần. Có biểu tượng trong mỗi tác phẩm lại thể hiện các ý nghĩa khác nhau. Điều đặc biệt là có những biểu tượng (như biểu tượng nước) có những nét ý nghĩa đã được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng nhưng khi đi vào trong tác phẩm của Camus lại thể hiện ý nghĩa khác - thậm chí trái ngược hẳn - ý nghĩa truyền thống đó. Cũng là một điều đặc biệt khi hầu hết các nhân vật chính trong ba tiểu thuyết của Camus (và cả trong tiểu thuyết cuối đời của ông, Con người đầu tiên) đều được nhà văn gán cho ý nghĩa biểu tượng. Đối với ông, mỗi nhân vật đó đều là một “nhân vật của thời đại”.
Chính những biểu tượng nghệ thuật này cũng đã góp phần giúp Camus khẳng định chỗ đứng của mình trên văn đàn Pháp và thế giới. Quả thật, trong thế giới của Joyce, Proust, Faulkner…, sự giản dị trong các sáng tác của Camus thật sự là một điều xa lạ. Các tiểu thuyết của ông có cốt truyện rõ ràng, lối kể chuyện ngắn gọn, cô đúc. Có thể nói, nhìn bề ngoài, lối viết tiểu thuyết của Camus rất cổ điển, không có sự vi phạm các yếu tố truyền thống như cốt truyện, nhân vật, từ ngữ, cấu trúc câu…, nhưng thật sự, trong các tác phẩm đó, có một sự cách tân rất lớn, điển hình như việc khai thác tính nước đôi trong tiểu thuyết. Để tạo được những nét riêng đó, Camus phải dựa không ít vào khả năng khai thác các biểu tượng của mình.

2. Vai trò của biểu tượng nghệ thuật trong việc thể hiện tính cách nhân vật và tư tưởng tác giả trong các tiểu thuyết của Camus.
Các biểu tượng đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật và tư tưởng của tác giả, góp phần truyền tải thông điệp của Camus. Ba tiểu thuyết thành công đánh dấu ba thời kì sáng tác với những chuyển biến và kế thừa; quả thật Camus có thể tự hào về những gì mình đã đạt được trên phương diện là một nhà văn. Là một nhà văn phi lí và nhà văn hiện sinh chủ nghĩa, các sáng tác của Camus đã trải qua những thử thác khắc nghiệt của thời gian khi rất nhiều tác phẩm văn học phi lí và văn học hiện sinh không có chỗ đứng trên văn đàn. Qua ba tiểu thuyết được chúng tôi khảo sát trong luận văn này, có thể thấy quả thực các tác phẩm của Camus đã viết về những vấn đề đặt để đối với nhân loại ngày nay. Các biểu tượng chồng chất trong các tiểu thuyết của ông đã góp phần rất lớn khẳng định giá trị của các tác phẩm đó.
Camus đã viết về cái phi lí, sự phản kháng và lưu đày trong cuộc sống của con người hiện đại. Các tác phẩm của ông, bằng cách này hay cách khác, đã buộc con người phải nhìn nhận lại chính mình, nhìn nhận lại cuộc sống của mình. Có thể có những người không tán đồng với cách giải quyết của Camus hay không ủng hộ thái độ của ông khi đối diện với cái phi lí, đối diện với những vấn đề thời đại, nhưng dù có thế thì họ vẫn không thể phủ nhận những vấn đề Camus đã đặt ra, không thể dửng dưng trước những câu hỏi tại sao đã ám ảnh con người hàng bao thế kỉ.
Trong ba tiểu thuyết của Camus, Dịch hạch được giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc đánh giá cao cả về giá trị nội dung và tư tưởng. Thông qua hình ảnh dịch hạch biểu tượng cho cái ác, cho chiến tranh, cho những tăm tối phá hủy con người và những gì thuộc về con người, Camus đã đưa ra một lời cảnh báo đối với toàn nhân loại về hiểm họa cái ác. Cũng thông qua sự phản kháng của các nhân vật trong tác phẩm, Camus đã thể hiện một thái độ tích cực là phải đương đầu với cái ác, cái xấu; đương đầu với chiến tranh, hiểm họa, cho dù những sự phản kháng đó có tuyệt vọng, có vô ích đi chăng nữa. Dịch hạch cũng là lời phủ định của Camus đối với những cầu viện nơi các đấng siêu hình, đồng thời là sự khẳng định vào sự tồn tại của những con người trung thực bình thường.
Trong khi đó, ở Người xa lạ và Sa đọa, hai tác phẩm mang đậm tư tưởng bi quan của Camus, người đọc vẫn không thể phủ nhận những đóng góp của chúng đối với nhận thức của nhân loại. Cái phi lí mà tác giả thể hiện trong Người xa lạ rõ ràng đã dạy cho con người phải biết thẳng thắn nhìn thẳng vào những phi lí cuộc đời. Ngay cả sự sám hối, sự giày vò và thái độ đóng kịch của anh chàng Clamence cũng vậy.

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS - THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tác phẩm
1. A. Camus, Dịch hạch (Nguyễn Trọng Định dịch), Nxb. Văn học, 2003.
2. A. Camus, Giao cảm - Bề trái và bề mặt (Trần Thiện Đạo dịch), Nxb. Văn hoá Thông tin, 2004.
3. A. Camus, Nơi lưu đày và vương quốc, Nxb. Hội nhà văn, H, 1992.
4. A. Camus, Sa đoạ (Trần Thiện Đạo dịch), Nxb. Hội nhà văn, 1995.
5. A. Camus, La Chute, Folioplus Classiques, 2008.
6. A. Camus, La Peste, Folioplus Classiques, 2008.
7. A. Camus, The Ousider, Everyman’s Librery, London, 1998.

B. Tài liệu nghiên cứu
* Tài liệu viết bằng tiếng Việt và tài liệu đã được dịch ra tiếng Việt
8. Lại Nguyên Ân (BS), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
9. H. Bénac, Dẫn giải ý tưởng vtăn chương, (Nguyễn Thế Công dịch), Nxb. Giáo dục, 2001.
10. J. Ahevalier, A. Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Phạm Vĩnh Cư CB), Nxb. Đà Nẵng, 1997.
11. Đoàn Văn Chúc, Văn hóa học, Nxb. Lao động, 2004.
12. Nguyễn Văn Dân (tuyển chọn và giới thiệu), Văn học phii lí, Nxb. Văn hoá Thông tin, 2002.
13. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
14. Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, TP. Hồ Chí Minh, 2002.
15. J.G. Frazer, Cành vàng, (Ngô Bình Lâm dịch), Nxb. Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, 2007.
16. A.JA. Gurêvich, Các phạm trù văn hóa Trung cổ, (Hoàng Ngọc Hiến dịch), Nxb. Giáo dục, 1998.
17. Đỗ Đức Hiểu, Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, Nxb. Văn học, 1978.
18. Trần Hinh, Tiểu thuyết A.Camus trong bối cảnh tiểu thuyết Pháp thế kỉ XX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
19. Nguyễn Sông Hương, Cảnh vật trong Người xa lạ (L’Etranger) của Albert Camus, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHKHXH & NV, 2000.
20. Nguyễn Thị Thanh Hương, Nghệ thuật tự truyện trong Con người đầu tiên của Albert Camus, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHSP HN, 2007.
21. N. Maurice, Tiểu thuyết Pháp từ Thế chiến thứ 2, Nxb. Văn học, 2002.
22. Nhiều tác giả, Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XX, Nxb. Thế giới, 1994.
23. Nhiều tác giả, Văn học phương Tây, Nxb. Giáo dục, 2001.
24. Nhiều tác giả, Về một dòng văn chương, Nxb. Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
25. Hoàng Phê (CB), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, 2008.
26. E.S. Samuel, Lịch sử triết học và các luận đề, Nxb. Lao động, 2004.
27. Nguyễn Anh Thái (CB), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb. Giáo dục, 1998.
28. Hoàng Thanh Thuỷ, Cái xa lạ trong Sa đoạ (La Chute) của A.Camus, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, H., 2004.
29. Lộc Phương Thủy, Tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX - Truyền thống và cách tân, Nxb. Văn học, 2005
30. Phùng Văn Tửu, Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi mới, Nxb. Khoa học xã hội, 2002.

Tài liệu tiếng Pháp
31. B.T. Fitch, L’étranger d’Albert Camus - un texte, ses lecteurs et leur lectures, Larousse, 1972.
32. P. Gaillard, La Peste de Camus, Hatier, 1972.
33. Lagarde, Michard, XXe siecle: Les grands auteurs Francais, Bosdas, Paris, 1988.
34. R.D. Lupée, Albert Camus, Editions Universitaires, Paris, 1984.
35. L’Europe - Albert Camus, N0846, 1999.

Tài liệu tiếng Anh
36. H.R. Lottman, Albert Camus, a biography, Doubleay& Company, Inc, NewYork, 1979.
37. Encyclopedia Britannica, Encyclopedia Britannica Inc., 2002.

C. Website
Website tiếng Việt
38. Đỗ Văn Hiểu, Biểu tượng nghệ thuật,
http://www.hnue.edu.vn/viewer.asp?a=1492
39. Nguyễn Quốc Trụ, Bữa nay mẹ tôi mất,
http://www.nhanvan.com/magazines/van/70&71/
40. Nhóm Tâm Biển, Tâm tư sao biển,
http://dovyha.catruong.com/phpbb/viewtopic.php?t=324
41. http://www.vietnamnet.vn/vanhoa/tacpham/2007/02/662949/


Website tiếng Pháp
42. N. Bartlett, E. Wilson, L'Homme et La Nature
http://www.french.pomona.edu/MSAIGAL/CLASSES/FR185/FALL96/ewilson-nbartlett/index.html.
43. V. Gilles, Clamence et l’interlocuteur : pragmatique de la manipulation et de l’identification dans le discours de La Chute de Camus,
http://www.erudit.org/revue/pr/2004/v32/n2/011177ar.html
44. Yvon Joseph-Henri, Lettres Angevines,
http://perso.orange.fr/yjohri/CoursLaChute.html
45. Mythe de Sisyphe et la littérature pendant les années noires,
http://webcamus.free.fr/conferences/nanterre92.html
46. http:// opus-all.paris.infm.fr/t/t/tl-camus/camusfrm.htm
47. http://perso.orange.fr/symbuli/inaccessible_etoile/pages_etoile/s13-symbole.htm
48. http://www.scholieren.com/boekverslagen/3053
49. http://www.ac-eunion.fr/pedagogie/lystella/recueil/lapeste.htm

Website tiếng Anh
48. Kjos Berit, Halloween Symbols,
http://www.crossroad.to/images/Halloween/Halloween-symbols.htm
49. The sun motif in The Stranger
http://www.123helpme.com
50. http://fr.wikipedia.org/wiki/Symbole
51. http://en.wikipedia.org/wiki/Symbol
52. http:// www.alalettre.com/camus-intro.htm
53. http://www.wiki-story.com/Symbole.html
54. http://www.schoollink.org/csd/pages/engl/lesson13.html
55. http://pagesperso-orange.fr/yjohri/Cours_Etranger.htm

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


KHÓA LUẬN:
BỀ TRÁI VÀ BỀ MẶT TRONG CÁC NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS


LUẬN VĂN
BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS



THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (BỀ TRÁI VÀ BỀ MẶT TRONG CÁC NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS)

PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MEURSAULT - NHÂN VẬT PHI LÝ
CHƯƠNG 2: RIEUX VÀ TARROU - NHỮNG NHÂN VẬT PHẢN KHÁNG VÀ TẬP HỢP
CHƯƠNG 3: CLAMENCE - NHÂN VẬT SÁM HỐI
KẾT LUẬN: CAMUS VẪN SỐNG


Sách tiếng Việt
* Tác phẩm
1. Camus A., Con người phản kháng (Bùi Giáng dịch), Vô Tanh xuất bản, Sài Gòn, 1968.
2. Camus A., Dịch hạch (Nguyễn Trọng Định dịch), Nxb Văn học, 2003.
3. Camus A., Giao cảm- Bề trái và bề mặt (Trần Thiện Đạo dịch), Nxb Văn hoá Thông tin, 2004.
4. Camus A., Nơi lưu đày và vương quốc, Nxb Hội nhà văn, H, 1992.
5. Camus A., Sa đoạ (Trần Thiện Đạo dịch), Nxb Hội nhà văn, 1995.
6. Camus A., Sứ mệnh văn nghệ hiện đại (Trần Phong Giao dịch), An Tiêm xuất bản, 1974.
7. Camus A., Gide.A, Heidegger.M, Sương tỳ hải (Bùi Giáng dịch), Phú Vang xuất bản, 1966.
* Sách nghiên cứu, từ điển
8. Ân (Lại Nguyên) (BS), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
9. Dân (Nguyễn Văn) (tuyển chọn và giới thiệu), Văn học phi lí, Nxb Văn hoá Thông tin, H., 2002.
10. Đào (Đặng Anh), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
11. Giáng (Bùi), M.Heideger và tư tưởng hiện đại, Nxb Văn học, 2001.
12. Hiểu (Đỗ Đức), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, Nxb Văn học, 1978.
13. Hinh (Trần), Tiểu thuyết A.Camus trong bối cảnh tiểu thuyết Pháp thế kỉ XX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
14. Maurice, Nadie, Tiểu thuyết Pháp từ thế chiến thứ 2, Nxb Văn học, 2002.
15. Nhiều tác giả, Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XX, Nxb Thế giới, H, 1994.
16. Nhiều tác giả, Một cõi Trịnh Công Sơn, Nxb Thuận Hoá, Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2004.
17. Nhiều tác giả, Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục, 2001.
18. Nhiều tác giả, Về một dòng văn chương, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
19. Samuel, E.S, Lịch sử triết học và các luận đề, Nxb Lao động, H, 2004.
20. Thái (Nguyễn Anh) (CB), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, 1998.
21. Tửu (Phùng Văn), Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, 2002.

Luận văn tiếng Việt.
22. Hương (Nguyễn Sông), Cảnh vật trong Người xa lạ (L’Etranger) của Albert Camus, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHKHXH & NV, H., 2000.
23. Thuỷ (Hoàng Thanh), Cái xa lạ trong Sa đoạ (La Chute) của A.Camus, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, H., 2004.

Sách tiếng Pháp
24. Fitch, Brian T., L’Étranger d’Albert Camus - un texte, ses lecteurs et leur lectures, Larousse, 1972.
25. Gaillard Pol, La Peste de Camus, Hatier, 1972.
26. Lagarde et Michard, XXe siecle: Les grands auteurs Francais, Bosdas, Paris, 1988.
27. Lupée, Robert De, Albert Camus, Editions Universitaires, Paris, 1984.
28. Nhiều tác giả, Lalittérature Francais de A à Z, Hatier, Paris, 1998.

Website tiếng Pháp
29. http://camus.free.fr
30. http://perso.wanadoo.fr/yjohori/courlachute.html
31. http://opus-all.paris.infm.fr/t/t/tl-camus/camusfrm.htm
32. http://Scholien.com
33. www.ac-reunion.fr/pedagogie/lystella/recueil/lapeste.htm
34. www.alalettre.com/camus-intro.htm

Tài liệu tiếng Anh
35. Camus A., The Ousider, Everyman’s Librery, London, 1998.
36. Lottman, Herbert.R, Albert Camus, a biography, Doubleay& Company, Inc, NewYork, 1979.

CAMUS VẪN SỐNG (BỀ TRÁI VÀ BỀ MẶT TRONG CÁC NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS - KẾT LUẬN)

PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MEURSAULT - NHÂN VẬT PHI LÝ
CHƯƠNG 2: RIEUX VÀ TARROU - NHỮNG NHÂN VẬT PHẢN KHÁNG VÀ TẬP HỢP
CHƯƠNG 3: CLAMENCE - NHÂN VẬT SÁM HỐI
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Camus là nhà văn khởi nghiệp từ khi còn trẻ, và cái chết phi lí đã buộc ông phải từ giã nơi lưu đày và vương quốc khi đang trong thời kì sáng tác sung mãn, khiến ông không thể hoàn thành rất nhiều những công việc còn đang dang dở. Trong 47 năm tuổi đời và 27 năm tuổi nghề; Camus chỉ sáng tác năm tiểu thuyết: Cái chết hạnh phúc; Người xa lạ; Dịch hạch; Sa đoạ; Người đàn ông đầu tiên; trong số đó Cái chết hạnh phúc - tác phẩm duy nhất Camus gọi là tiểu thuyết là tác phẩm đầu tay nhưng lại chưa hoàn thành; còn tác phẩm Người đàn ông đầu tiên chỉ được xuất bản 24 năm sau khi ông mất. Cái chết hạnh phúc - như trong chuyên luận Tiểu thuyết A.Camus trong bối cảnh tiểu thuyết Pháp thế kỉ XX, tác giả Trần Hinh đã chỉ ra rất rõ, là anh em sinh đôi của Người xa lạ. Người đàn ông đầu tiên lại là tác phẩm mang đậm tính tự truyện; nhưng nếu Sa đoạ là tự truyện của nhân vật thì Người đàn ông đầu tiên lại có thể được coi như một tự truyện của chính tác giả. Nhân vật chính Jacques Cormery được sinh ra vào một buổi tối mùa thu 1913 trong một ngôi làng nhỏ gần Alger. Cậu bé cũng có một người cha bị tử thương trong chiến tranh vào tháng 11 năm 1914. Năm 14 tuổi, cậu bé Jacques rời nhà đi Saint-Brieuc, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm cha. Trong cuốn tiểu thuyết tự truyện này, Camus đã dựng lại gần như toàn bộ những tư tưởng đạo đức và triết học của ông (dưới hình thức là những tư tưởng của người cha). Cũng trong tác phẩm này, Camus đã làm sống lại tuổi thơ nghèo khổ mà cũng giàu có và hạnh phúc của chính mình; làm sống lại những tháng ngày sống cùng người bà nghiêm khắc, người mẹ luôn nhẫn nhục và im lặng mà cậu bé Jacques (hay chính Camus) đã yêu với một tình yêu thương sâu sắc nhưng câm lặng. Ông cũng làm sống lại những tháng ngày ấu thơ tràn ngập hạnh phúc nhờ vào những niềm vui thích giản dị xuất phát từ sự gắn bó với mặt trời, với biển, bóng đá và bạn bè.


Điểm đặc biệt là, không giống những tự truyện khác như Những chữ (Sartre) hay Thời thơ ấu (Sarraute) được viết theo trật tự thời gian tuyến tính; Người đàn ông đầu tiên là một hành trình quay ngược trở lại tuổi thơ của nhân vật chính, với sự xen kẽ giữa cuộc đi tìm cha và kí ức tuổi thơ của mình. Người đàn ông đầu tiên, thật sự có thể soi tỏ rất nhiều những tiểu thuyết trước của Camus, cả về mặt tư tưởng và nhân vật.


Tuy nhiên, do nhiều lí do, chúng tôi không thể khảo sát tác phẩm này (cũng như tiểu thuyết Cái chết hạnh phúc) mà chỉ tập trung phân tích bốn nhân vật trong ba tiểu thuyết Camus - ba tác phẩm chính và cũng được nhiều người biết đến nhất; và ở góc độ nào đó, có thể được coi như đã gói gọn toàn bộ sự nghiệp tiểu thuyết Camus.


Qua những phân tích đó, chúng tôi rút ra một số nhận xét:


1. Từ Meursault đến Clamence, nhân vật tiểu thuyết Camus đã thể hiện rõ sự đa dạng và thống nhất trong tư tưởng nhà văn.


Người xa lạ đã được Camus xếp vào trong hệ thống những tác phẩm viết về cái phi lí, còn Dịch hạch lại nằm trong hệ thống tác phẩm viết về sự phản kháng. Ngay từ khi viết Người xa lạ Camus đã có những ý tưởng cho Dịch hạch; hay nói cách khác, ông đã đồng thời xây dựng ý tưởng cho cả hai hệ thống tác phẩm. Nhân vật tiểu thuyết Camus, vì thế, vừa mang tính phi lí lại vừa thể hiện sự phản kháng.


Tuy nhiên, ở Người xa lạ, Camus nhấn mạnh tính phi lí trong nhân vật Meursault; còn ở Dịch hạch, ông chủ yếu làm nổi bật sự phản kháng của hai nhân vật chính. Từ Meursault đến Rieux và Tarrou, nhân vật tiểu thuyết đã đi từ phân li đến tập hợp; từ phản kháng cá nhân đến phản kháng cộng đồng; từ phản kháng bằng hình thức chấp nhận - thụ động đến phản kháng bằng đấu tranh - chủ động. Từ Meursault đến Rieux và Tarrou, nhân vật tiểu thuyết Camus cũng đi từ bi quan đến chủ quan (dĩ nhiên là sự chủ quan nhuốm màu sắc bi quan; sự bi quan này là một đặc điểm chi phối toàn bộ tác phẩm Camus). Tuy nhiên, trong khi giữa Meursault và Tarrou có nhiều nét tương đồng (do cùng là nhân vật phi lí) thì Meursault và Rieux lại rất khác nhau. Cho dù Rieux cũng là một nhân vật truyền tải những tư tưởng về cái phi lí của Camus, nhưng Rieux, đồng thời, lại là đại biểu mang tính thuyết phục cao nhất cho tư tưởng Camus về phản kháng và tập hợp. Vì thế, nếu coi Meursault là một nhân vật phi lí - phân li thì Tarrou có thể gọi là nhân vật phi lí - tập hợp, còn Rieux là nhân vật phản kháng - tập hợp.

Đến Clamence, nhân vật tiểu thuyết Camus lại trở về với sự phân li đậm đặc. Clamence có thể được coi là nhân vật hiện sinh - phân li; và đồng thời, nhân vật này cũng là một nhân vật bi quan. Clamence thật sự là một nhân vật phức tạp và rất khó đoán định. Ở anh ta, bề trái và bề mặt, xấu và tốt, bóng tối và ánh sáng, lưu đày và vương quốc... gắn bó một cách vô cùng khăng khít. Nhưng, nếu ở Meursault, bề trái và bề mặt ấy gần như cân bằng; nếu ở Rieux và Tarrou bề mặt được khẳng định mạnh mẽ (nhân vật càng chịu đựng những bề trái của hoàn cảnh sống thì lại càng thể hiện rõ bề mặt trong tính cách và hành động) thì với Clamence, bề trái rõ ràng đã lấn át bề phải (cả về hoàn cảnh sống, tính cách, hoạt động, nhận thức). Cũng là nhân vật phi lí nhưng trong khi Meursault thụ động thì anh ta lại hoàn toàn chủ động, Meursault mơ hồ thì anh ta hoàn toàn sáng suốt, Meursault lạnh lùng thì anh ta lại càng dấn thân, cuồng nhiệt. Anh ta là một nhân vật hai mặt, một con người mang mặt nạ, một kịch sĩ giữa đời thường. Anh ta không lúc nào có được sự thanh thản. Anh ta luôn phải đấu tranh với chính mình (các nhân vật tiểu thuyết trước của Camus không hề có những đấu tranh gay gắt như thế).


Như vậy, từ Meursault đến Clamence, nhân vật tiểu thuyết Camus đã đi từ bị động đến chủ động, vô thức đến hoàn toàn nhận thức được về mình. Nhưng cũng từ Meursault đến Clamence, nhân vật tiểu thuyết Camus lại hoàn thành một vòng tròn từ bi quan đến chủ quan rồi lại trở lại bi quan, từ phân li, tập hợp rồi lại phân li. Chính sự phát triển đó đã thể hiện rõ tính phức tạp trong tư tưởng, sáng tác Camus.


2. Sự vận động của nhân vật tiểu thuyết Camus đã thể hiện những mâu thuẫn và chuyển biến trong cuộc đời và nhận thức của nhà văn.


Người xa lạ được khởi thảo năm 1938, hoàn tất năm 1940 và xuất bản lần đầu năm 1942; Dịch hạch được bắt đầu viết vào năm 1941 và xuất bản lần đầu năm 1947; còn Sa đoạ thật sự chỉ được Camus bắt tay vào sáng tác cuối năm 1955 và được xuất bản lần đầu năm 1956.


Nhìn vào các mốc trên, có thể thấy hai tác phẩm Người xa lạ và Dịch hạch đã được Camus suy ngẫm ý tưởng từ lâu và cũng được viết trong một thời gian dài. Camus viết Người xa lạ năm 1938, nhưng Cái chết hạnh phúc - người anh em sinh đôi với nó - thì lại được Camus bắt tay vào viết từ 1936. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trần Hinh cũng chỉ ra rất rõ tính liên-văn bản trong cốt truyện Người xa lạ thể hiện qua các sáng tác từ 1934 đến 1940 của Camus. Dù ít dù nhiều, Người xa lạ đã chịu ảnh hưởng của những kí ức tuổi thơ, những kinh nghiệm sống và những tư tưởng, quan niệm của Camus về cuộc đời, cuộc sống. Xóm nghèo Belcourt, thành phố Alger, không khí oi bức, cái nắng như thiêu như đốt, biển cả, đêm tối, sự mát mẻ .v.v. tất cả những cái đó đều có sự gắn bó đặc biệt với cậu bé Camus. Chủ đề nghèo khổ và cô đơn, cái phi lí, cái nhìn sự vật ở bề trái và bề mặt đã tồn tại trong nhận thức Camus từ khi ông còn là một đứa trẻ; khi ông sống trong trọn vẹn cô đơn và hạnh phúc, nghèo khổ và giàu có; khi ông cảm nhận được tất cả giao hòa với thiên nhiên và cuộc sống.


Cho đến khi viết Dịch hạch, thế giới phi lí đó vẫn tồn tại, những kí ức tuổi thơ đó vẫn hằn dấu, nhưng trong tư tưởng và cuộc đời Camus đã có những biến đổi. Trong sáu năm kể từ khi dự định cho đến khi kết thúc Dịch hạch, cuộc sống Camus đã có nhiều biến động, ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến quá trình hoàn thành tác phẩm.


Camus đã bắt đầu viết Dịch hạch trong thời gian sống ở Oran, thành phố dịch hạch trong tiểu thuyết. Ông đã tham khảo nhiều tài liệu về các nạn dịch lớn xảy ra gần thời gian đó và cũng tham khảo nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là Cá voi trắng (Melville), một biểu tượng cho cuộc chiến chống lại cái ác - cũng là một sự phản kháng chống lại dịch hạch mà Camus muốn thể hiện trong tác phẩm của mình.


Trong suốt thời gian viết Dịch hạch, Camus đã thấu hiểu sâu sắc những dịch hạch mang tính biểu tượng: chiến tranh, chủ nghĩa phát xít, sự kì thị chủng tộc... cũng như những hậu quả mà nó gây ra: nỗi đau, sự chia li... Camus đã tận mắt chứng kiến những người bạn của mình phải chịu sự khủng bố của nạn kì thị chủng tộc, ông đã thật sự thấu hiểu sự cô đơn, hoang mang và bất hạnh của những người dân Do Thái (không phải đến khi Đức chiếm đóng thành phố mà từ trước đó, sự kì thị đối với những người Do Thái đã tồn tại trong Oran). Cũng vào thời kì sống ở Oran này, việc dạy học đã khiến Camus không có thời gian ra ngoài hay đi du lịch, ngay cả đến việc đọc một quyển sách cũng rất khó khăn. Đối với ông, mỗi ngày đều dài dằng dặc và nặng nề; ông cũng thật sự cảm thấy rất cô đơn. Sau đó, ông lại bị bệnh lao hành hạ. Vừa chịu nỗi đau thể xác, Camus vừa phải chịu đựng những đau đớn về mặt tinh thần, khi chiến tranh buộc ông phải xa cách gia đình. Cô đơn, không tiền bạc, đối diện với mùa đông đang đến gần và đứng trước sự chiếm đóng và tàn sát của quân phát xít, Camus đã thực sự trở thành một tù nhân trong thành phố dịch hạch.


Nhưng, lần này, thái độ của Camus đối với cái phi lí đã khác với khi ông sáng tác Người xa lạ. Bận rộn với công việc và đấu tranh; gia nhập phong trào kháng chiến và làm báo; văn chương Camus đã dần dần từ bỏ đề tài cô đơn để đến với tinh thần đoàn kết. Dịch hạch của Camus đã trở thành biểu tượng cho cuộc đấu tranh chống lại cái ác, biểu tượng cho sự phản kháng tích cực của con người.


Nhưng, sự lạc quan đó của Camus, tinh thần phản kháng tích cực đó không còn tồn tại trong tác phẩm tiếp theo - Sa đọa. Bắt đầu viết vào cuối 1955 và kết thúc (hoặc gần như kết thúc) vào đầu tháng 1 năm 1956, Sa đọa là biểu tượng cho sự lưu đày (l’exil), là một tác phẩm viết về lưu đày.
Sự bi quan và thái độ im lặng của Camus trong thời gian này là một điều dễ hiểu. Ông đã không ngừng bị giày vò bởi cuộc chiến Algérie - cuộc chiến đã giết hại biết bao người ở mảnh đất mà nhà văn đam mê gắn bó. Ngay sau Chiến tranh thế giới II và đặc biệt kể từ tháng 8 năm 1954 khi Mặt trận dân tộc giải phóng Algérie được thành lập, cuộc đấu tranh của nhân dân Algérie đã phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Nhưng thực dân Pháp cũng đã điều động máy bay, xe tăng và pháo binh đến càn quét, đàn áp cuộc khởi nghĩa vũ trang. Thành phố Alger, vùng đất trời Địa Trung Hải gắn bó với Camus như một phần cơ thể đã bị tắm trong máu, đạn. Cuộc sống thật sự là chốn lưu đày.


Camus đã từng nói với Marie Casares, thư kí của mình, rằng Sa đọa không phải là một bản thú tội, mà là “linh hồn thời đại, dù là linh hồn sám hối của thời đại”. Sa đoạ không phải một bản thú tội, cũng có nghĩa nó không phải là lời sám hối của Albert Camus, dù chính nhà văn (theo lời thư kí của ông), đã từng chứng kiến một vụ tự tử trên cầu Nghệ Thuật mà ông cảm thấy hối hận vì đã không cứu nạn nhân. Sa đoạ mang ý nghĩa sâu sắc hơn là một bản thú tội của tác giả. Nó là biểu tượng cho sự lưu đày, là sự truyền tải những tư tưởng của Camus về sự lưu đày, vốn đã hình thành từ lâu trong nhận thức Camus khi ông phân chia thế giới thành hai bề trái - phải. Nhưng, dù sao đi nữa Sa đoạ thể hiện sự bi quan chứ không phải là tuyệt vọng; và nhân vật Clamence đã thể hiện sự tích cực qua hành động phản kháng bằng sự lưu đày và phản kháng chống lại chính sự lưu đày đó.


3. Việc phân tích nhân tích giúp chúng tôi có thể đưa ra một vài đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn


- Tính đa dạng và thống nhất:


Từ Người xa lạ đến Sa đoạ, Camus chỉ viết vẻn vẹn có ba tiểu thuyết trong vòng 18 năm; nhưng mỗi tác phẩm “mang một phong cách khác nhau” (dẫn theo [13;141]).


Tuy nhiên, tính đa dạng trong ba tiểu thuyết lại nằm trong sự thống nhất phong cách của Camus. Dù đậm dù nhạt, cả ba tiểu thuyết đều thể hiện hai yếu tố phân li và phản kháng, “mà ông cho rằng đó là con đường từ khám phá hiện thực đến sáng tạo nghệ thuật” [13;139]. Cả ba tiểu thuyết đều có đầy đủ những yếu tố nước đôi (vốn đã góp phần hình thành bề trái và bề mặt trong nhân vật), tính truyền thống và biểu tượng, sự gắn bó với thiên nhiên.


Sự thống nhất trong đa dạng hay sự đa dạng thống nhất đó chính là một nét độc đáo của tiểu thuyết Camus, phong cách Camus.


- Tính cổ điển và cách tân


Quả thật, trong thế giới của Joyce, Proust, Faulkner... sự giản dị trong các sáng tác của Camus thật sự là một điều xa lạ. Camus “đã tìm sự mới mẻ riêng của mình bằng cách kế thừa truyền thống văn chương tư tưởng Pháp” [13;134]. Các tiểu thuyết của ông có cốt truyện rõ ràng, lối kể chuyện ngắn gọn, cô đúc. Có thể nói, nhìn bề ngoài, lối viết tiểu thuyết của Camus rất cổ điển, không có sự vi phạm các yếu tố truyền thống như cốt truyện, nhân vật, từ ngữ, cấu trúc câu... Nhưng thật sự, trong các tác phẩm đó, có một sự cách tân rất lớn.


Ngay tính nước đôi trong thể loại đã thể hiện một sự phản-tiểu thuyết. Sự xa lạ của nhân vật qua cách kể từ ngôi thứ nhất, kiểu nhân vật kép với điểm nhìn di chuyển, tính nước đôi trong phương thức kể chuyện... không phải đã chỉ ra những nét hiện đại trong nghệ thuật tiểu thuyết Camus? Chối bỏ trò chơi kĩ thuật, đứng ngoài lề của cuộc đảo chính hòng lật đổ những quan niệm tiểu thuyết truyền thống bằng cách giết chết nhân vật, huỷ diệt thời gian... Camus không phải không cố gắng làm mới tiểu thuyết. Chỉ có điều, ông làm mới dựa trên sự tiếp thu và phát triển cái truyền thống.


- Tính nước đôi


Ngay từ thời thơ ấu, Camus đã có ý thức phân chia cuộc sống thành hai bề trái - phải. Trong tư tưởng của ông, cả hai bề đối lập đó đều cùng tồn tại, tác động qua lại lẫn nhau. Con người cũng chỉ có thể tận hưởng trọn vẹn những cảm xúc mà bề phải mang lại sau khi đã nhận thức được bề trái của sự vật. Trong suốt quá trình sáng tác và đặc biệt qua các nhân vật tiểu thuyết, Camus đã luôn thể hiện cái nhìn cuộc đời, cuộc sống dựa trên hai dấu hiệu đối lập đó. Chính nó đã ảnh hưởng đến toàn bộ sáng tác của Camus, khiến cho tính nước đôi đậm đặc trong tác phẩm của ông trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật.


- Tính biểu tượng


Có thể nói, một đặc điểm quan trọng hình thành phong cách nghệ thuật Camus chính là tính biểu tượng trong các tác phẩm của ông. Vừa có những biểu tượng riêng biệt trong từng tác phẩm lại vừa có cả một hệ thống biểu tượng chi phối toàn bộ các sáng tác của Camus; vừa có các nhân vật biểu tượng lại có các không gian biểu tượng (vừa là không gian lưu đày vừa là không gian vương quốc), hình ảnh biểu tượng (dịch hạch, mặt trời, biển, bầu trời đêm...). Chính các biểu tượng đó đã đóng vai trò quan trọng trong thể hiện tính cách nhân vật và tư tưởng của tác giả.


4. Các nhân vật đã truyền tải thông điệp của Camus, góp phần khẳng định sức sống của tác phẩm và giá trị tư tưởng của Camus.


Có thể Camus không được coi là một nhà triết học, nhưng ông đã thể hiện trong các tác phẩm của mình khá nhiều tư tưởng triết học đáng chú ý, đặc biệt là những tư tưởng của ông về cái phi lí.
Ba tiểu thuyết thành công đánh dấu ba thời kì sáng tác với những chuyển biến và kế thừa; quả thật Camus có thể tự hào về những gì mình đã đạt được trên phương diện là một nhà văn. Là một nhà văn phi lí và một nhà văn hiện sinh chủ nghĩa; các sáng tác của ông đã phải trải qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian khi rất nhiều tác phẩm văn học phi lí và văn học hiện sinh chủ nghĩa không còn chỗ đứng trên văn đàn. Có thể còn có nhiều lời bàn cãi về sức sống của các tác phẩm Camus, nhưng có một sự thật không thể phủ nhận được là cho đến tận ngày nay, các tác phẩm của Camus vẫn còn giá trị và ảnh hưởng đối với văn học thế giới; thậm chí ở Việt Nam, cho đến những năm gần đây, tác phẩm Camus mới được hiểu một cách đúng đắn.


Dĩ nhiên, có thể có nhiều người phê phán tính bi quan trong các sáng tác của Camus, nhưng đặt tác phẩm vào trong điều kiện lịch sử thời kì Camus sáng tác cũng như đặt vào trong sự hiểu biết về cuộc đời và tư tưởng của nhà văn, người đọc hoàn toàn có thể hiểu được thái độ của Camus.


Qua ba tiểu thuyết được chúng tôi khảo sát trong khoá luận này, có thể thấy quả thực các tác phẩm Camus đã viết về những vấn đề đặt để đối với nhân loại ngày nay. Các biểu tượng chồng chất trong các tiểu thuyết của ông càng khẳng định giá trị của các tác phẩm đó.


Camus đã viết về cái phi lí, sự phản kháng và lưu đày trong cuộc sống của con người hiện đại. Các tác phẩm của ông, bằng cách này hay cách khác, đã buộc con người phải nhìn nhận lại chính mình, nhìn nhận lại cuộc sống của mình. Có thể có những người không tán đồng với cách giải quyết của Camus hay không ủng hộ thái độ của ông khi đối diện với cái phi lí, đối diện với những vấn đề thời đại; nhưng dù có như thế thì họ vẫn không thể phủ nhận những vấn đề Camus đã đặt ra, không thể dửng dưng trước những câu hỏi tại sao đã ám ảnh con người hằng bao thế kỉ.


Trong ba tiểu thuyết của Camus, Dịch hạch được giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc đánh giá cao cả về giá trị nội dung và tư tưởng. Thông qua hình ảnh ẩn dụ dịch hạch, biểu tượng cho cái Ác, cho chiến tranh, cho những cái tăm tối phá huỷ con người và những gì thuộc về con người, Camus đã đưa ra một lời cảnh báo với toàn nhân loại về hiểm hoạ cái Ác. Cũng thông qua sự phản kháng của các nhân vật trong tác phẩm, Camus đã thể hiện một thái độ tích cực là phải đương đầu với cái ác, cái xấu; đương đầu với chiến tranh, hiểm hoạ, cho dù những sự phản kháng ấy có tuyệt vọng, có vô ích đi chăng nữa. Dịch hạch cũng là lời phủ định của Camus đối với những cầu viện nơi các đấng siêu hình; đồng thời là sự khẳng định vào sự tồn tại của những con người trung thực bình thường.


Trong khi đó, ở Người xa lạ và Sa đoạ, hai tác phẩm mang đậm tư tưởng bi quan của Camus, người đọc vẫn không thể phủ nhận những đóng góp của chúng đối với nhận thức của nhân loại. Cái phi lí mà tác giả thể hiện trong Người xa lạ, rõ ràng đã dạy cho con người phải biết thẳng thắn nhìn thẳng vào những phi lí cuộc đời. Ngay cả sự sám hối, sự giày vò và thái độ đóng kịch của anh chàng Clamence cũng thế thôi.


Dĩ nhiên, mỗi người đọc sẽ lại có một cách nhìn riêng về tác phẩm và nhân vật. Có thể có những cách hiểu hoàn toàn trái ngược nhau. Nhưng rõ ràng những gì Camus gửi gắm trong các tác phẩm của mình hoàn toàn không phải là những vấn đề đơn giản. Nó sẽ còn thách thức nhận thức của người đọc trong nhiều thế hệ nữa. Và có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng chừng nào trên thế giới còn tồn tại cái phi lí, sự giả dối, tồn tại chiến tranh, bất công và những dịch hạch tâm hồn, thì chừng ấy các tác phẩm của Camus sẽ vẫn còn giá trị. Nó không chỉ có giá trị cảnh báo mà còn thức tỉnh, không chỉ đưa ra những vấn đề đặt để trước nhân loại ngày nay mà còn đề xuất những cách giải quyết vấn đề đó.


Trên phương diện nghệ thuật, các tác phẩm của Camus cũng khẳng định được giá trị đích thực của mình. Kế thừa truyền thống và tiếp thu những nét hiện đại, tiểu thuyết Camus đã xây dựng được một phong cách nghệ thuật riêng biệt độc đáo. Không quá mới mẻ đến mức không hoà nhập được với nền tiểu thuyết thế giới như kĩ thuật viết tiểu thuyết phản tiểu thuyết của các nhà tiểu thuyết hiện đại; cũng không quá cổ điển đến mức nhàm chán như lối viết tiểu thuyết truyền thống; kĩ thuật viết của Camus là một sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại, là sự cách tân trong tính truyền thống. Chính vì thế, nó xứng đáng được các thế hệ sau và ngay cả thế hệ đương thời tiếp thu, học hỏi.


5. Qua phân tích nhân vật, chúng tôi cũng rút ra một vài điểm tương đồng và khác biệt giữa Camus và một vài nhà văn khác, cụ thể là Kafka (so sánh trong hệ thống văn học phi lí) và Sartre (so sánh trong hệ thống văn học hiện sinh)


So với Kafka, Camus là một người đi sau; và chính ông đã bổ sung, phát triển quan niệm về cái phi lí của Kafka. Nếu Kafka đại diện cho cái phi lí khách quan thì Camus đại diện cho cái phi lí chủ quan. Các nhân vật của Kafka sống giữa cái phi lí, chịu tác động bởi cái phi lí và bất lực trong nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho những nhận thức về cái phi lí. Cho đến tận cuối cuộc đời mình, các nhân vật của Kafka vẫn không thể hiểu được về cái phi lí, họ hoàn toàn bị động trong cuộc sống phi lí.


Trong khi đó, nhân vật của Camus, cho dù lúc đầu cũng bị động, không nhận thức được về tình trạng phi lí của mình; nhưng cuối cùng đã hiểu rõ cái phi lí, hiểu rõ tình trạng của mình. Hơn thế nữa, các nhân vật của Camus còn phản kháng chống lại cái phi lí đó.


Một điểm đặc biệt nữa trong các tiểu thuyết phi lí của Camus là ông đã xây dựng các nhân vật phi lí trong sự phát triển. Từ L’Étranger đến Dịch hạch, nhân vật phi lí Camus đi từ bị động đến chủ động, từ vô thức đến ý thức, từ bình thản chấp nhận đến kiên quyết đấu tranh...


Chính đó cũng là điểm khác biệt chủ yếu giữa Kafka và Camus.


Còn với Sartre, rõ ràng, ngay từ thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành và rồi đến tận lúc từ giã chốn lưu đày, Sartre và Camus đã có rất nhiều khác biệt. Sinh ra và lớn lên ở Paris trong sự yêu thương, đùm bọc của ông ngoại và bước vào thế giới sách vở ngay từ khi còn nhỏ; cuộc sống của Sartre gần như khác biệt hoàn toàn với cuộc sống của Camus - một chú bé sinh ra và lớn lên trong khu phố nghèo ở đất nước Algérie, vốn lúc này vẫn đang là thuộc địa của Pháp. Chính vì thế, trong khi Sartre có thể mạnh mẽ khẳng định con người chỉ thật sự là mình trong hành động, con người phải làm chủ bản thân mình; thì Camus luôn luôn bị ám ảnh bởi ánh mặt trời, bởi biển cả và gió đất cũng như bị ám ảnh bởi tính hai mặt của cuộc sống đến mức độ không thể không bị chi phối bởi cảm giác bị những cái siêu nhiên, mơ hồ bủa vây. Chính vì thế, các nhân vật của Camus luôn bị tác động bởi những yếu tố tự nhiên, trở thành một món đồ trong bàn tay số phận. Nhưng, cũng chính vì nhìn thấy sự tồn tại của sự vật trên hai bề trái - phải mà các tác phẩm của Camus vẫn ngập tràn ánh sáng và rạng ngời tình yêu với vùng Địa Trung Hải; trong khi Sartre lại nhìn tự nhiên ở cái bề thẳm sâu đen tối và trong khi nhân vật của ông phải sống trong một không gian ẩm thấp, tối tăm - một không gian lưu đày thật sự. Chủ nghĩa nhân ái, đối kháng, sở thích hạnh phúc và tình yêu “hình dáng đẹp” [18;57] ở Camus đối ngược với sự “dấn thân chính trị, cách mạng, ám ảnh bởi tội lỗi, ngán ngẩm “văn chương” ở Sartre”[18;57].


Lẽ tất nhiên, chúng tôi không muốn và cũng không thể so sánh độ hơn thua giữa hai nhà văn đó. Nhưng có một điều rõ ràng, như chính nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào đã nhận xét, “nếu Sartre chủ yếu là nhà tư tưởng ngay trong văn chương, thì Camus thực sự là một nghệ si ngay khi phát biểu những quan điểm hiện sinh” [15;275]. Và, dù thiếu đi bất kì ai trong hai người đó, văn học Pháp sẽ bị tổn thất thật sự.


Tóm lại:
Cuộc sống luôn tồn tại với hai mặt trái - phải song song. Cái nhìn một chiều chính là cái nhìn giết chết cuộc sống. Không phải chỉ riêng Camus mà còn nhiều nhà văn, nhà nghệ sĩ khác cũng nhìn nhận và chấp nhận thế giới trong sự tồn tại hai mặt đó. Chỉ có điều, ở Camus, nó đã trở thành đặc điểm chủ yếu chi phối thế giới nghệ thuật của tác phẩm.


Vấn đề bề trái và bề mặt là vấn đề quan trọng nhất trong tư tưởng, sáng tác của Camus. Chính vì nhìn sự vật theo cái nhìn nhị nguyên đó mà trong tư tưởng và tác phẩm của Camus luôn tồn tại một khối mâu thuẫn không dễ dàng giải quyết và cũng chưa từng được giải quyết.


Bề trái và bề mặt trong các nhân vật tiểu thuyết Camus được biểu hiện trên mọi mặt của cuộc sống. Từ tiểu thuyết đầu tiên đến tiểu thuyết cuối cùng, nhân vật Camus đã có bước phát triển trên mọi phương diện. Chính sự phát triển đó đã chứng minh tính đa dạng trong phong cách nghệ thuật Camus cũng như chứng minh sự phức tạp trong tư tưởng của ông.


Nhân vật tiểu thuyết Camus đã truyền tải thành công những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm, góp phần hình thành một chủ nghĩa hiện sinh mang màu sắc riêng biệt của nhà văn. Mỗi nhân vật vừa đậm tính bi quan nhưng lại cũng đầy lạc quan. Qua nhân vật, Camus đã bộc lộ rõ cái nhìn cuộc sống cũng như thái độ sống của mình. Và dù còn có nhiều ý kiến trái ngược nhưng chúng ta không thể không nhìn nhận những đóng góp của Camus đối với văn học hiện đại trên cả phương diện tư tưởng và nghệ thuật. Chủ nghĩa hiện sinh có thể phai mờ và thậm chí hoàn toàn mất đi ảnh hưởng của nó nhưng những tác phẩm của Camus nói chung và những tiểu thuyết của Camus nói riêng sẽ vẫn còn những giá trị nhất định.


Cuối cùng, có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng Camus đã thật sự dấn thân không chỉ trong cuộc sống bình thường mà trong cả nghệ thuật. Ông đã sống, đã viết với một thái độ trung thực và luôn luôn hết mình. Chỉ một thái độ đó thôi đã đủ để Camus trở thành một tấm gương cho những người đi sau trân trọng và học tập.

CLAMENCE - NHÂN VẬT SÁM HỐI (BỀ TRÁI VÀ BỀ MẶT TRONG CÁC NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT CỦA ALBERT CAMUS - CHƯƠNG 3)


Từ Người xa lạ đến Dịch hạch, nhân vật của Camus đã thực hiện một hành trình dài từ phân li đến tập hợp; và đến Sa đọa (xuất bản lần đầu năm 1956) nhân vật của ông lại trở về nguyên vẹn là con người phân li và hiện sinh.

Trong Sa đọa, cuốn tiểu thuyết - tự truyện được kể lại dưới hình thức đối thoại với người nghe vô hình, nhân vật chính Jean-Baptiste Clamence (“mà không phải là đích danh của tôi” [5;25]) đã dựng lên câu chuyện cuộc đời mình từ quá khứ đến hiện tại trên hai bề trái - phải. Cuộc đời anh ta là cuộc đời hai mặt của một kẻ hai mặt: từ tính cách, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống .v.v. đều được phơi bày ra trên cả bề trái lẫn bề phải của nó. Là một trạng sư ở thành phố Paris thành đạt trên mọi phương diện, anh ta tự coi mình là một kẻ thống trị đầy quyền uy cho đến một ngày kia, khi đột nhiên nhận ra tính hai mặt trong tính cách và thành công của mình. Anh ta bị ám ảnh bởi cái chết của một người phụ nữ ngã xuống dòng sông Seine mà anh ta không dám cứu; bởi hành động chiếm lấy phần nước cuối cùng ít ỏi và vô ích của một người bạn tù; bởi cái mặt trái trong tính cách của mình; đến mức trở nên sa đọa, phải rời Paris đến Amsterdam, tự lưu đày mình cả về mặt tinh thần và thể xác. Anh ta trở thành một quan-toà-sám-hối, kiếm tìm vô vọng sự giải thoát cho mình.

Sa đọa được chia thành 6 phần, có thể được coi như lời tự thú của Clamence trước một người nghe vô hình trong khoảng thời gian 5 ngày, với không gian di chuyển từ quán bar Mexico-City cho tới chiếc cầu, biển cả và nhà riêng anh ta. Trong 6 phần đó, cả cuộc đời của Clamence đã được tái hiện lại trước mắt người đọc, với tất cả vinh quang và suy sụp, đi tới những phần tươi sáng nhất trong bề mặt, cũng như những phần u tối nhất trong bề trái của nhân vật.

3.1. Clamence - Kịch sĩ bị lưu đày
3.1.1. Clamence - kịch sĩ

Clamence đã tự giới thiệu mình một cách ngắn gọn: Jean-Baptiste Clamence - Kịch sĩ. Có lẽ đó là từ ngắn gọn nhất để chỉ tính hai mặt trong con người và cuộc sống của anh ta. Clamence đã biến cả xã hội quanh anh ta thành một sân khấu lớn mà anh ta là nhân vật trung tâm điều khiển hoạt động của tất cả các nhân vật khác và cũng đồng thời bị điều khiển bởi chính các nhân vật khác. Giống như Meursault, anh ta cũng là một kẻ xa lạ đối với thế giới, nhưng trong khi Meursault xa lạ vì đi ngược lại những qui tắc, giá trị đạo đức thông thường thì Clamence lại xa lạ bởi anh ta luôn đóng kịch, luôn đeo mặt nạ. Nhưng, cũng như Meursault lúc đầu đã không nhận thức được tính phi lí trong sự tồn tại của mình, Clamence cũng đã đóng kịch một cách hồn nhiên đến mức gần như do bản năng. Anh ta cũng tự đề ra những nguyên tắc sống và những qui ước đạo đức theo một cái chuẩn của riêng anh ta - bằng cách đó, anh ta tự tách mình ra, trở thành xa lạ trong thế giới - và tuân thủ một cách nghiêm ngặt những qui tắc đó, để trưng ra trước khán giả một hình ảnh Clamence giả dối, một Clamence đóng kịch ngay khi chỉ có một mình.

Anh ta đi mai táng một viên tham tá của đoàn luật sư trong gió tuyết, vì “thấu rõ rằng sự có mặt (…) sẽ được chú ý và bình luận một cách thuận lợi cho mình” [5;50]. Anh ta ngả mũ chào như chào khán giả sau khi giúp một người mù loà băng ngang đường. Anh ta luôn “xem vợ bạn như một vật thiêng liêng” [5;79], và để tôn trọng nguyên tắc đó, anh ta thôi giao hảo với ông chồng trước khi gian díu với bà vợ… Anh ta đóng kịch một cách thường trực và tài tình đến độ anh ta tự khai tử con người thật của chính mình. Hay, con người thật ấy - một con người không rõ tên - chỉ tồn tại thuần túy; còn con người của kịch trường - một Jean-Baptiste Clamence nào đó mới là người sống thật sự.

Clamence đóng kịch, nhưng điều đặc biệt là anh ta không phải chỉ muốn diễn cho người khác xem; cái làm anh ta quan tâm hơn cả là diễn cho mình xem. Nói cách khác, anh ta sống một cuộc sống hai mặt, chính vì lí do cốt yếu: thoả mãn ham muốn thống trị của mình.

Clamence đã từng thống trị kẻ khác và cũng đã từng bị kẻ khác thống trị. Khát vọng của anh ta là được thống trị tất cả: thiên nhiên, đồng loại và chính mình. “Tôi hằng khao khát làm Chúa thống trị mọi sự” [5;73], “tôi chỉ có thể sống ở đời (…) trong điều kiện này: trên khắp quả địa cầu, hết thảy mọi người, hay đại đa số nhân quần, đều hướng nguyện về tôi, mãi mãi không xác không hồn, không đời sống độc lập, sẵn sàng đáp lời tôi kêu gọi bất luận vào lúc nào, nghĩa là, tự nguyện làm kẻ khô cằn, cho đến ngày tôi rủ lòng chiếu cố tới họ với nguồn ánh sáng của mình” [5;91]. Anh ta bị ám ảnh bởi ham muốn thống trị, giống như một nhân vật trong truyện ngắn Kẻ phản bội hay một linh hồn bối rối: “hùng mạnh, đúng thế, chính đấy là cái từ mà tôi nghiền ngẫm trên đầu lưỡi tôi. Tôi ước mơ đạt được quyền lực tuyệt đối, cái quyền lực bắt mọi kẻ khác phải quì gối, bắt đối thủ phải qui hàng” [5;51]. Cái ước mơ bắt kẻ khác phải quì gối đó đã khiến Clamence trở nên tàn nhẫn, thành một kẻ đê tiện. Anh ta chinh phục và rồi ruồng rẫy một người phụ nữ chỉ để xoa dịu lòng tự ái của mình; anh ta trở thành một Don Juan đối với không biết bao phụ nữ trong khi trói buộc họ bởi lời thề chung thuỷ.
Nhìn nhận ham muốn thống trị ở góc độ tâm lí, có thể hiểu được tính hợp lí trong những hành động của Clamence; một con người luôn muốn đứng trên cao, “cho đến tận những tiểu tiết chi li trong đời sống tôi cũng cần được đứng trên” [5;34], sống với cái ta đây tuyệt đối, chỉ yêu thương duy nhất chính con người mình. Kết hợp giữa ham muốn thống trị - cái ta vị kỉ và sự đóng kịch bản năng; Clamence ngự trị bên trên kẻ khác bằng một vẻ ngoài nhún nhường, từ tốn, chinh phục kẻ khác bằng cái đạo đức giả vờ khiến chính anh ta cũng phải si mê, ngưỡng vọng. Anh ta là chúa tể của chính mình.

Chính cái ham muốn đó, sự ích kỉ đó cũng là một thứ dịch hạch trong tâm hồn, một thứ dịch hạch không bao giờ chết hẳn đã lưu đày con người trong chốn nhân gian.




3.1.2. Không gian lưu đày

Chỉ quan sát trên phương diện tâm lí mới có thể thấy rõ nhất bi kịch của Clamence khi tự lưu đày mình trong một vùng ẩm thấp, sương mù dày đặc; một địa ngục trần gian trên phần đất chót mé của lục địa. Một kẻ say mê độ cao và ánh sáng mặt trời giờ phải sống trong một đất nước nằm dưới mực nước biển và quanh năm sương mù vây hãm. Một con người thanh lịch, hào hoa luôn được đón tiếp trong đèn hoa rực rỡ, giờ lại phải đặt văn phòng tại một quán bar của dân giang hồ, thuỷ thủ. Từng như con chim đại bàng sải cánh trên bầu trời cao rộng, giờ đây anh ta trở thành tù nhân trong nhà tù kí ức của chính mình.

Thành phố Amsterdam, vì thế, trở thành một biểu tượng. Trước hết, đó là biểu tượng của chốn lưu đày. Sau nữa, với kênh ngòi chằng chịt và sương mù dày đặc như trong mê cung, nó là biểu tượng của con đường dẫn đến địa ngục tâm hồn. Rồi quán bar Mexico-City như trung tâm của vũ trụ trở thành biểu tượng cho sự kết án cũng như biểu tượng cho sự xa lạ. Và vịnh Zuydersse “mặt nước lặng lờ, buồn hiu, bất tận và nhoè lẫn với đất liền” biểu tượng cho một chậu nước thánh rửa tội mà Clamence “không bao giờ còn bước chân ra khỏi được” [5;142], hay cũng có nghĩa chẳng bao giờ rửa sạch được tội lỗi của mình.

Với Clamence, nước, biển, đêm tối không còn mang tính tích cực như với các nhân vật trước nữa. Không những thế, nó còn trở thành nỗi ám ảnh, trở thành chứng nhân tội ác và vị quan toà xét xử anh ta. Ở đây, nước, biển, đêm tối đã hiện ra với bề trái của nó; biến Amsterdam thành một chốn lưu đày thực sự. Sương mù dày đặc, biển cả bao la nhưng buồn hiu, bất tận và nhàn nhạt một màu; đêm tối cản tầm mắt con người và bao che cho tội lỗi. Ở Amsterdam, khác hoàn toàn với khung cảnh Alger quen thuộc, mặt trời không chói chang, không khí không oi bức, con người không bị cầm tù trong cái không khí bức bối biến cảnh vật thành ra đậm tính phi nhân. Trong một hoàn cảnh địa lí như thế, con người không còn cần đến đêm tối để được tận hưởng cái mát mẻ, êm đềm và che chở. Amsterdam nằm trong một điều kiện khí hậu hoàn toàn khác. Nó đối lập hoàn toàn với không gian sống quen thuộc của các nhân vật ở Alger hay Oran. Nằm dưới mực nước biển, kênh ngòi chằng chịt, sương mù dày đặc, Amsterdam gợi lên một vẻ ẩm thấp thê lương, một sự mù mịt, u mê, tối tăm, cũng là một cảm giác không có lối thoát nào khác. Chính ở đây, con người lại cần đến ánh sáng để cảm giác mình được sống, cần đến mặt trời để xua đi sự u mê.


3.1.3. Sự lưu đày trong tâm hồn

Với ham muốn thống trị, với sự tôn sùng cái tôi cá nhân của mình, Clamence lẽ dĩ nhiên trở nên dễ bị tổn thương hơn rất nhiều người khác nếu phải đối đầu với những gì động chạm đến lòng kiêu hãnh của anh ta, đến cái khao khát ngự trị trên đỉnh cao của anh ta. Chỉ một chi tiết rất nhỏ nhặt, chỉ một sự kiện tình cờ thoáng qua trong cuộc sống hàng ngày cũng có thể khiến anh ta bị giày vò, suy nghĩ; khiến anh ta bị hành hạ một cách khổ sở. Cảm thấy mình đã tỏ ra đớn hèn trước đám đông, anh ta đã suốt mấy ngày trời ngốn nghiến một niềm ân hận độc hại. Chính vì thế, dù cho có ở đỉnh cao của danh vọng, anh ta vẫn luôn phải chịu sự lưu đày trong tâm hồn.

Cũng chính con người vị kỉ và thống trị đó, khi phải đối diện với chính mình, đối diện với bề trái trong con người mình, sẽ không tránh khỏi sự dằn vặt. Cuộc đời anh ta như đựơc chia ra thành hai giai đoạn: trước và sau khi ý thức được sự hai mặt của mình. Ở khoảng giữa hai giai đoạn đó, hay bước đệm từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 được hình thành trên ba sự kiện quan trọng: tiếng cười trên cầu, vụ lộn xộn ở đoạn đèn giao thông và cái chết của người phụ nữ trên sông Seine. Cả ba sự kiện, với mức độ đậm nhạt khác nhau, đã trực tiếp ảnh hưởng đến tâm lí Clamence, kéo anh ta trượt dài theo cái dốc của sự sụp đổ. Anh ta bắt đầu sa đọa, bị ám ảnh, sám hối và tự lưu đày mình. Trong ba sự kiện, tiếng cười trên cầu đóng vai trò hồi chuông thức tỉnh, réo gọi nhận thức của anh ta; vụ lộn xộn khiến anh ta nhận ra mặt trái của hình ảnh đầy vinh quang sáng lạn; còn cái chết của người phụ nữ mà anh ta không dám cứu, không dám nhờ người khác cứu đã khiến anh ta bị ám ảnh bởi cảm giác tội lỗi.

Để hiểu rõ hơn sự chuyển biến trong nhận thức của anh ta, chúng tôi đã lập bảng thống kê những tiếng cười (chúng tôi chỉ khảo sát những tiếng cười, không tính đến những cái cười thầm, cười mỉm..) xuất hiện trong tác phẩm.


Khảo sát tiếng cười trong tác phẩm Địa điểm
C1 (Tiếng cười xuất hiện lần 1) Trên cầu Nghệ thuật
C2 (Tiếng cười xuất hiện lần 2) Dưới dòng Seine
C3 (Tiếng cười xuất hiện lần 3) Trong nhà riêng
C4 (Tiếng cười xuất hiện lần 4) Không xác định
C5 (Tiếng cười xuất hiện lần 5) Không xác định
C6 (Tiếng cười xuất hiện lần 6) Không xác định

Vị trí
Sau lưng
dưới cửa sổ
Từ trong bụng
bao vây xung quanh
Từ chốn xa xăm


Thời gian

đêm thu dịu mát

Không xác định
Những đêm quả tình tuyệt diệu
Tâm trạng

Thoả mãn về mình
Phân vân suy nghĩ
Nhớ đến người tình
Tan vỡ ảo mộng về mình
cảm giác thống trị
Chủ thể
Không xác định
bọn trẻ
chính mình
Toàn thể vũ trụ
Không xác định
Đặc điểm
tiếng cười ré
chuỗi cười trôi xa
Tiếng cười vui vẻ rộn ràng
Tiếng bật cười tương tự trên cầu Nghệ thuật

Tiếng cười ré

tràng cười ré
Thật thà, hồn nhiên, gần như thân thiện,
Phản ứng của Clamence
Sửng sốt, trở mình đột ngột
đánh trống ngực dồn hồi
khép cửa sổ, nhún vai
-cười sự biện hộ của mình
-nhận ra sự ích kỉ và giả dối của mình
không đủ sức chịu đựng
-thấy bị xét xử vì những hạnh phúc đã qua

Hoài nghi trở lại
Nhận ra tính hai mặt của mình


Qua bảng miêu tả các tiếng cười trong tác phẩm, chúng tôi nhận thấy mặc dù xuất hiện 6 lần với những đặc điểm vị trí, địa điểm, tâm trạng và thời điểm khác nhau; nhưng tóm gọn lại, tiếng cười trong Sa đoạ chỉ có hai giọng điệu chính: tiếng cười cảnh tỉnh (bao gồm C1; C2; C3) và tiếng cười xét xử (gồm C4; C5; C6).

Tiếng cười cảnh tỉnh là những tiếng cười từ xa vọng lại; xuất hiện trong thời điểm Clamence đang thấy thoả mãn với những vinh quang của mình. Tiếng cười có vẻ hồn nhiên, thân thiện, tưởng như vô thưởng vô phạt nhưng lại đeo đuổi, ám ảnh anh ta; khiến anh ta giật mình chột dạ, để rồi nhận ra “cái cười mỉm của mình mang hai mặt” [5;54].

Trong khi đó, tiếng cười xét xử lại là tiếng cười bủa vây anh ta, như lời khẳng định khi anh ta còn đang phân vân, không dám nhìn thẳng bề trái trong con người mình.

Tiếng cười C3 được xác định là tiếng cười vui vẻ rộn ràng của bọn trẻ trên đường phố; nhưng thật ra tiếng cười này xuất hiện chỉ như làm nhiệm vụ an ủi, lừa phỉnh Clamence. Tiếng cười C3 giúp anh ta cảm thấy tính vô hại của cái cười C1 và C2, nhưng thật ra đó cũng chỉ là một sự đóng kịch. Tiếng cười C1 và C2 đều xuất hiện sau lưng, đầy huyền bí (dù anh ta phủ nhận); nó đến rồi đi một cách bất ngờ nhưng ám ảnh. Nó không chỉ xuất hiện một lần (nếu chỉ xuất hiện một lần, hẳn Clamence đã có thể quên nó ngay), mà tắt rồi lại vang lên mạnh mẽ hơn, tràn ngập hơn nhưng cũng xa vời hơn, hư ảo hơn. Nó như sự cảnh báo dai dẳng bám đằng sau Clamence, để rồi có thể vụt xuất hiện ngay trong những lúc anh ta cảm thấy mãn nguyện nhất, hạnh phúc nhất, khi anh ta bay liệng trên những tầng cao tự do và thống trị. Tiếng cười C1 và C2, về bản chất, cũng giống như tiếng cười xét xử. Chỉ có điều, ban đầu anh ta không nhận ra hoặc không dám nhận ra tính mỉa mai, kết án của nó. Đến khi đã nhận ra tính hai mặt của mình, anh ta mới thấy những tiếng cười ấy bủa vây quanh mình. Tiếng cười ấy là biểu tượng cho sự phán xử của người khác đối với anh ta; còn sự ám ảnh bởi cái chết của người phụ nữ trên dòng sông Seine lại là biểu tượng cho sự tự phán xử của chính anh ta.

Nhìn ở góc độ tâm lí, việc Clamence không lao xuống làn nước giá lạnh để cứu người phụ nữ có thể được lí giải là do sự hèn nhát mà bất kì người nào cũng có thể có. Nhưng cái tôi đóng kịch đã khiến anh ta không những không cứu mà cũng không tri hô cho ai biết. Nếu tri hô, người phụ nữ có thể được một người nào đó cứu; Clamence sẽ đồng thời phải chịu hai sự thất bại: vừa thất bại trong vai kịch là một anh hùng, một con người nhân ái và dũng cảm; vừa thất bại trong cuộc tranh chấp để đứng cao hơn người khác (anh ta đã từng cố gắng để “giành lấy kẻ mù loà khỏi mọi cử chỉ ân cần nào không phải là của mình” [5;30]). Anh ta đã gián tiếp cướp đi mạng sống của người phụ nữ đó. Anh ta thật ra không phạm tội , nhưng lại bị kết án và bị lưu đày suốt cả phần đời còn lại. Tuy nhiên, luôn cảm thấy bị xét xử (bởi chính mình) nhưng lại chưa được đền tội; anh ta không lúc nào cảm thấy thanh thản. Vừa muốn bị kết tội và đền tội, vừa muốn công khai tội lỗi của mình để không còn bị dằn vặt, ám ảnh; Clamence vừa không muốn để người khác biết những mặt trái của mình. Bị giằng xé giữa hai điều đó, anh ta càng ngày càng trượt dốc. Cũng giống như tiếng cười xét xử đến rồi đi không thể nào kiểm soát được, cảm giác tội lỗi cũng ám ảnh Clamence suốt một thời gian dài. Cảm giác đó có thể ngủ yên trong đáy sâu kí ức của anh ta, để anh ta được hưởng một sự bình yên giả trá; rồi khi dường như anh ta đã được tự do, được thanh thản, thì cảm giác đó lại trỗi dậy, có thể dưới hình dạng của một cây cầu gợi anh ta nhớ tới cây cầu Nhà vua nơi anh ta phạm tội, có thể dưới dạng một đống rác đen trôi trên mặt nước gợi anh ta nhớ tới thi thể người phụ nữa đó.
Nhưng, nếu được làm lại, nếu được quay trở về quá khứ sau khi đã chịu bao nhiêu sự đày đọa như thế, phải chăng anh ta sẽ lao mình xuống dòng Seine để cứu người phụ nữa đó và cứu chính mình? Đó là một câu hỏi không dễ trả lời, vì dù sao, anh ta cũng cảm thấy may mắn vì tất cả đều đã muộn. Và thật ra, anh ta có thật sự quan tâm đến số phận người phụ nữa đó đâu?

Clamence, khi đã nhận ra bề trái tình cảm và cuộc sống của mình, nhanh chóng biến thành một con người rất khác.

Từng yêu đến si mê độ cao và khoảng không khoáng đạt, giờ anh ta lại “thích hơi ẩm bốc lên từ chốn sình lầy, mùi lá cây ngâm nước rữa thối dưới kinh và màu tang tóc xông lên từ các ghe tải tràn trề bông hoa” [5;58]. Từng sống giữa Paris hoa lệ, kinh đô ánh sáng, anh ta lại tự nguyện định cư tại một “khoảng không gian nhỏ nhắn chi chít nhà cửa và sóng nước, vây bọc bởi sa mù, đất băng lạnh giá và biển cả đầm đìa hơi sương” [5;20]. Từng là người ham sống và tràn trề sức sống, giờ anh ta cảm thấy bị đè nặng bởi cảm giác cái chết đang đến gần, bởi sự gian dối bao bọc chung quanh. Anh ta đã thay đổi. Ngày trước anh ta muốn được kẻ khác tôn sùng mình, giờ đây anh ta muốn tự hạ bệ mình, muốn được người khác phán xử, kết tội và tha thứ. (Tuy nhiên, cần thấy rằng với Clamence, khi anh ta bị phán xử, hạ bệ chính là khi anh ta thấy mình được giải thoát, thấy mình lại được đứng cao hơn người khác. Cũng như nghề quan-toà-sám-hối của anh ta, về thực chất, “vì chưng bất luận quan toà nào sớm muộn gì rồi cuối cùng cũng hoá thành kẻ đi sám hối, vậy thì cần phải ngược dòng mà hành nghề sám hối để có thể cuối cùng hoá thành quan toà” [5,170]. Nói cách khác, anh ta sám hối để giành được quyền kết tội người khác. Tóm lại, từ đầu đến cuối, anh ta vẫn không thể từ bỏ được khát khao thống trị và chiến thắng.) Anh ta mơ ước có được sự sòng phẳng ân đền oán trả, nhưng cái tôi kiêu hãnh và đóng kịch không cho anh ta làm thế. Anh ta bước vào con đường bê tha, phóng túng, hòng mong “xoá sạch mọi tiếng cười chế giễu, phục hồi im lặng và nhất là trao phong cho chúng ta tính chất bất diệt” [5;133]. Nhưng, cho dù có làm gì đi nữa, anh ta mãi vẫn là một kẻ phạm tội chờ ngày thi hành án.

http://myweb.wvnet.edu/~jelkins/lawyerslit/images/camus_fall.jpg

3.2. Vinh quang trong quá khứ và nghề quan-toà-sám-hối
3.2.1. Clamence và vương quốc

Trong các tác phẩm của Camus, cuộc sống hiện tại là nơi lưu đày. Nhưng mặt khác, nó lại cũng là vương quốc, là quê hương. Thế giới của Sa đoạ cũng mang biểu tượng hai mặt như thế: vừa là nơi lưu đày, Amsterdam đồng thời là vương quốc; vừa là thành phố ẩm ướt mù sương kênh ngòi chằng chịt, Amsterdam đồng thời lại là thành phố đầy huyễn hoặc tràn trề ánh sáng và hoan lạc.

Hình ảnh vương quốc trong Sa đoạ là tập hợp của Amsterdam, Paris và quần đảo Hi Lạp; trong đó Paris và Hi Lạp là những hình ảnh trong quá khứ, còn Amsterdam lại là hình ảnh trong mộng tưởng. Paris và Hi Lạp tồn tại trong kí ức của Clamence, nhưng trong khi thực tại với sương mù, với “những mép bờ bằng phẳng xoá nhoà trong lớp mù sa” [5;127], với mưa dầm và ánh tà nhạt nhoà gây cảm giác như đi trong giấc mộng thì quá khứ với Paris chói loà ánh sáng, với những hòn đảo Hi Lạp nổi bật dài theo chân trời lại gây ấn tượng về một sự tồn tại thật sự, sáng rõ. Trong khi Amsterdam lưu đày là biểu tượng cho thực tại sa đọa, cho tội lỗi, cho bóng tối và thất bại thì Paris, Hi Lạp lại là biểu tượng cho quá khứ đẹp đẽ, cho vinh quang, ánh sáng và thành công. Còn Amsterdam - vương quốc lại là biểu tượng cho mộng ảo, cho hi vọng và cho sự kiếm tìm lối thoát, kiếm tìm sự bình an, hoan lạc và hưởng thụ. Một thế giới có thật nhưng đã qua, một thế giới có thật đang tồn tại và một thế giới không thật trong hiện tại; cả ba thế giới đó cùng tồn tại, cùng chi phối cuộc đời và tâm tư Clamence; hình thành nên những mâu thuẫn gay gắt nhưng lại cũng là những sự dung hoà kì lạ trong anh ta. Vương quốc đó luôn luôn tồn tại để không một lúc nào Clamence không bị giày vò, ân hận và nuối tiếc. Nó cũng luôn tồn tại để nâng đỡ tâm hồn Clamence trong địa ngục trần gian.

3.2.2. Vinh quang trong quá khứ

Trước khi trở thành một kẻ lưu đày nơi quê người, Clamence đã từng là kẻ thống trị, người chiến thắng, một Giáo hoàng, một Đức Chúa cha. Anh ta đã xây dựng cho mình hình ảnh một con người hoàn hảo: một luật sư tài năng, một người tình nồng nhiệt, một người đàn ông lịch lãm, một con người hào hiệp, khiêm nhường và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Anh ta đạt được thành công trên mọi lĩnh vực: sự nghiệp, ái tình và thoả mãn chính mình. Lương tâm anh ta được yên bằng, tâm hồn anh ta được thư thái và vui vẻ. Nhìn bề ngoài, anh ta là một con người gương mẫu, tài hoa, một vị thánh vừa thanh cao vừa trần tục. Và xét ở góc độ này, Clamence cũng là một con người tập hợp như Tarrou và Rieux. Nhưng, điểm khác biệt lớn nhất giữa Clamence- trước (chúng tôi dùng từ này gọi nhân vật Clamence trước khi anh ta nhận ra tính hai mặt của mình và dùng từ Clamence-sau cho nhân vật Clamence sau thời điểm đó) và các nhân vật của Camus đó là anh ta dường như hoàn toàn thoả mãn về mình, là chủ nhân thật sự của chính mình. Chính anh ta là người điều khiển hoạt động của mình và của những người xung quanh; luôn luôn tự tin vào chính mình và hoàn thành xuất sắc mọi kế hoạch đã đề ra.

Tuy nhiên, với Clamence, tất cả những thành công trong quá khứ chỉ có một ý nghĩa; thoả mãn chính mình. Đó chính là thứ anh ta mơ ước, kiếm tìm và đã tìm được. Xét ở góc độ này, Clamence là một nhân vật phân li hoàn toàn. Nhưng, khác với Meursault, Clamence là một nhân vật phân li trong cái vỏ tập hợp. Anh ta quan tâm đến mọi người, làm từ thiện .v.v. nhưng thật ra anh ta chỉ quan tâm đến cá nhân mình. Tưởng như anh ta hành động vì người khác, nhưng thực chất là vì cái Tôi của mình. Anh ta xếp mình đứng cao hơn tất cả và vì thế, tự tách mình ra khỏi mọi người.

Sau này, khi đã từ bỏ Paris, từ bỏ xứ sở đã lưu dấu những tháng ngày huy hoàng của mình, Clamence luôn nuối tiếc vì những gì đã mất đó, luôn khắc sâu trong kí ức những hào quang quá khứ đó. Trong sự lưu đày ở hiện tại, trong sương mù thành Amsterdam; quá khứ đó là ánh sáng, là hơi ấm, là vương quốc của anh ta.




3.2.3. Quan-toà-sám-hối

Clamence-trước đã đứng trên tột đỉnh vinh quang, còn Clamence-sau dường như lại xuống đến tận cùng của sa đọa. Tự gọi mình là quan-toà-sám-hối, Clamence-sau không ngừng dằn vặt và sám hối. Chính trong khi đó, anh ta đã thể hiện con người thật của mình. Không còn bị che mắt bởi những hào quang giả tạo, anh ta nhận ra bản tính thực của mình, nhận ra rõ rệt cả hai bề trái - phải trong con người mình.

Nghề quan-toà-sám-hối mà anh ta tự nhận, ở bề trái của nó là sám hối để trở thành quan toà, nhưng ở bề mặt của nó lại là sám hối trước khi trở thành quan toà. Trở thành quan toà xét xử chính mình trước khi xét xử người khác; điều đó cũng đồng nghĩa với việc mỗi người phải nhìn nhận những tội lỗi của mình, thẳng thắn đánh giá bề trái trong con người mình; cũng như mỗi người phải sống, sám hối một cách chân thật. Cuộc sống có thể phi lí, dịch hạch có thể đe dọa, nhưng bằng sự phản kháng và sám hối, con người có thể chiến thắng, có thể hoàn thiện mình.

Clamence đã mất một thời gian dài trước khi hành nghề quan-tòa-sám-hối. Bị ám ảnh bởi cảm giác tội lỗi, bởi tính giả trá của mình, anh ta đã tìm quên trong rượu, trong đàn bà và sự sa đọa; nhưng vẫn không thể nào quên được những ám ảnh phạm tội đó của mình. Cho tới khi đó, anh ta mới nhận ra cần phải trở thành quan-tòa-sám-hối; bởi vì chỉ khi đã sám hối con người mới có quyền là quan toà kết án người khác. Sám hối, cũng có nghĩa là nhận ra bản chất của mình, giảm đi sự gia tăng của những lời ngợi ca gian dối của người đời và bằng cách đó, “hợp cách mình với cuộc đời” [5;120] hơn. “Vả chăng, không một ai có thể khẳng định mình vô tội, trong lúc mọi người có thể khẳng định mà chẳng sợ sai lầm rằng chúng ta thẩy đều có tội” [5;143].

*

3.3. Một số vấn dề thi pháp
3.3.1. Tính nước đôi của phương thức kể chuyện

Trong Sa đoạ, có sự xuất hiện người kể chuyện và người nghe chuyện. Nhưng, trong khi người kể chuyện đã được giới thiệu là Clamence thì người nghe lại không được xác định một cách rõ ràng, chắc chắn. Đó vừa có thể là người khác, lại vừa có thể là chính người kể.

Nhìn ở hình thức, nhân vật tôi đang nói chuyện với một người nghe vô hình. Vì toàn bộ tác phẩm là một tràng dài liên tục những lời kể của nhân vật tôi, nên câu chuyện cuộc đời của Clamence được tái hiện lại dưới hình thức độc thoại với một thính giả câm. Tuy nhiên, qua lời kể của nhân vật, người nghe dường như vẫn tham gia vào câu chuyện, vẫn đưa ra những câu trả lời, những câu hỏi, những lời nhận xét “Ngài nói chí lí, cái lối lặng thinh im im của y quả là inh ỏi, chối tai” [5;8]. “Vâng, thưa ngài, xứ Hoà Lan là một giấc mộng” [5;21]… Độc thoại của Clamence, đến đây, đã trở thành đối thoại, một kiểu đối thoại-giả [13;106].

Sự nhập nhằng giữa độc thoại - đối thoại này đã mang đến một sự mơ hồ đối với nhận thức về nhân vật. Anh ta thật sự là người như thế nào? Anh ta chân thành hay giả dối? Anh ta sám hối hay biện hộ?

Clamence đã bị ám ảnh một thời gian dài bởi cảm giác tội lỗi, bởi sự sám hối và phán xử chính mình. Kể câu chuyện cuộc đời mình cho một người khác nghe chính là quá trình tự thú của anh ta; chính là sự thôi thúc bởi mong muốn được giải thoát, được phán xử, được đền tội. Đối diện với một quan toà không phải là mình, chấp nhận đặt mình dưới sự phán xét của một người mới quen, Clamence đã chứng tỏ một sự chân thật thực sự, một sự sám hối chân thành. Với một người từng đứng trên đỉnh cao của vinh quang và ánh sáng, với một người khao khát thống trị và khẳng định mình như Clamence, sự tự thú đó chứng tỏ một sự dũng cảm đặc biệt và một sự day dứt khủng khiếp.

Tuy nhiên, theo dõi toàn bộ văn bản Sa đoạ và dựa trên những hiểu biết về tâm lí nhân vật, chúng tôi nghiêng về ý kiến cho rằng người nghe trong tác phẩm không phải ai khác mà chính là Clamence. Nói cách khác, Sa đoạ được thể hiện dưới hình thức độc thoại nội tâm hay đối thoại giả với chính mình.

Trong phần kết thúc tác phẩm, ở đoạn: “Vậy thì ngài hãy vui lòng thuật lại cho tôi nghe sự tình đã xảy ra trên bến bờ dòng Seine và ngài đã xoay xở cách nào để khỏi phải liều thân nguy đến tính mạng? Ngài hãy đích thân cất tiếng thốt lên mấy lời van nài đã không ngừng vang dội suốt bao năm trường trong lòng tôi giữa đêm thâu, mấy lời van nài tôi sẽ được phát biểu qua cửa miệng ngài: Ới cô ơi, cô hãy giùm tôi mà lại nhảy xuống dòng nước, cho tôi lần nữa được dịp cứu vớt cả đôi ta!” thì đâu là người nói, đâu là người nghe? Không phải người nói là Clamence trong hiện tại và người nghe cũng lại là một Clamence sao? Clamence-nghe này hẳn phải là người đã từng trải qua sự kiện quan trọng trên cầu Nhà vua năm nào; hay nói chính xác hơn, Clamence này chính là hình ảnh nhân vật khi vừa đến Amsterdam, vẫn còn dáng vẻ “hào hoa phong nhã, ăn mặc suýt soát sang trọng, có con mắt lõi đời của hạng người 40 đã suýt soát sành sỏi hầu hết mọi chuyện” [5;14]. Người nghe, vì vậy, vừa là chính người kể lại vừa như không phải là người kể.

Điều này cũng dễ hiểu vì Clamence vốn là người có ham muốn thống trị, từng là một kịch sĩ đại tài và luôn đặt cái tôi của mình lên trên hết, nên dĩ nhiên anh ta khó có thể phơi bày những xấu xa trong con người mình trước cái nhìn soi mói của người đời. Anh ta không thể để cho người khác được quyền phán xử mình. Nhưng anh ta lại bị ám ảnh và dằn vặt quá lâu nên không thể chịu đựng được sức nặng của những ám ảnh đó. Anh ta cần được thú nhận, cần được người khác phán xử và cần tìm một sự thanh thản trong tâm hồn. Không thể và không muốn viện cầu đến Thượng đế, anh ta buộc phải thú nhận với người khác. Sự giằng xé giữa một bên là ham muốn thống trị và tình yêu cái tôi đối với một bên là sự sám hối và mong muốn được đền tội đã đặt Clamence vào trong một tình huống khó khăn: nói với người khác hay giữ nguyên trong lòng, để người khác phán xử hay tự mình giày vò mình? Cuối cùng, anh ta đã lựa chọn một giải pháp trung gian: thú tội với một người khác giả vờ, nhưng để cho có tính thuyết phục, người khác giả đó phải được xây dựng y như thật. Một lần nữa, Clamence lại đóng kịch và đóng kịch thành công.

Cũng lại một lần nữa, anh ta thể hiện sự giả dối của mình. Rốt cuộc thì sau bao nhiêu cố gắng, anh ta vẫn không thể chiến thắng được chính mình.

Cho dù anh ta có là con người hai mặt, thì trong anh ta, bề trái vẫn luôn chiếm ưu thế. Anh ta là một con người thời đại, biểu tượng cho “sự sa đọa vô phương cứu chữa của cái sinh linh cô độc trôi giạt giữa những đô thị lớn” [27;282].

3.3.2. Thời gian nghệ thuật

Sa đọa là câu chuyện cuộc đời Clamence đã được chính anh ta kể lại trong khoảng thời gian năm ngày, từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng nhân vật người nghe-giả kia có mặt ở Amsterdam. Tác phẩm được chia thành sáu phần trong đó bốn phần tương ứng với bốn ngày gặp gỡ và kể chuyện, riêng hai chương 4 và 5 lại cùng là câu chuyện diễn ra trong ngày thứ tư. Thời gian kể chuyện này đã mang đến cho tự truyện một không khí chân thật, tưởng như Clamence đang thực sự kể lại cuộc gặp gỡ với một người khách lạ; cũng có nghĩa là những gì anh ta kể lại, lời thú nhận của anh ta là những lời nói thật tâm. Anh ta dường như thật sự dũng cảm khi dám tự phán xử mình trước một người khác không quen biết đó.

Nếu thời gian kể chuyện chỉ gói gọn trong năm ngày thì thời gian truyện kể lại kéo dài suốt từ những tháng ngày nhân vật đang ở trên đỉnh cao của thành công và vinh quang cho đến khi anh ta trở thành quan-toà-sám-hối trong chốn lưu đày, nơi địa ngục trần gian.

Trong khi thời gian kể chuyện được sắp xếp theo trục thời gian tuyến tính thì thời gian truyện kể lại bị người kể chuyện xáo trộn lung tung, vừa ở hiện tại lại quay trở về quá khứ; từ quá khứ xa lại kéo về quá khứ gần hay ngược lại; từ quá khứ xác định cho đến quá khứ không khác định. Thậm chí, nhân vật còn rào đón, hẹn trước một thời gian trong tương lai. Những khoảng thời gian chồng chéo đó đã tạo nên những tầng lớp cho tác phẩm, khiến người đọc có cảm giác như đang lạc bước vào trong mê cung kí ức của người kể chuyện.

Khi câu chuyện được kể lại mang tính chất một lời thú tội, một sự sám hối, một lời tự phán xử mình; việc đảo trật tự thời gian mang nhiều ý nghĩa trong tìm hiểu tính cách nhân vật.

Có thể hiểu nhân vật đang xúc động mạnh, anh ta không thể sắp xếp câu chuyện một cách mạch lạc mà nhớ gì thì kể đó. Dường như anh ta đã bị ám ảnh trong suốt một thời gian dài và rất khó để có thể kể lại rõ ràng câu chuyện theo tuần tự. Dường như dòng cảm xúc của anh ta quá mạnh mẽ, mong muốn được giãi bày của anh ta quá mãnh liệt. Và lẽ dĩ nhiên, như thế có nghĩa những cảm xúc của anh ta là thực.

Nhưng thực ra lại hoàn toàn ngược lại. Sự đảo trật tự thời gian đó lại nằm trong tính toán của người kể chuyện. Anh ta để các sự kiện chồng chéo lên nhau như một sự tung hoả mù khiến người nghe vô tình bị cuốn theo dòng cảm xúc của anh ta, khiến người nghe như một người đang lạc bước trong sương mù cần đến sự chỉ dẫn của anh ta. Không những thế, anh ta còn thể hiện sự rào đón ngay từ lần đầu gặp gỡ. Anh ta giới thiệu mình là quan-toà-sám-hối ngay trong lần đầu gặp nhau, trong suốt những ngày tiếp theo anh ta đều nhắc lại vấn đề này, nó thật sự trở thành mục đích chính của cuộc nói chuyện. Nhưng chỉ đến tận ngày cuối cùng, anh ta mới giải thích quan-toà-sám-hối nghĩa là gì. Cũng như các sự kiện khác cũng được anh ta kể lại bằng cách rào đón như thế. Cũng có nghĩa là anh ta đã hùng hồn biện hộ cho mình trước cả khi để cho đối phương biết được tội lỗi của mình. Nói cách khác, anh ta đã thực hiện một mẹo nhỏ của một trạng sư tài năng giàu kinh nghiệm để biện hộ cho mình, kiếm tìm sự tha thứ, rửa tội cho mình.

Với ý nghĩa đó, anh ta quả thật vẫn luôn là một kịch gia.


. La chute de Camus (lien) étude - cours et séquences didactiques
. La chute de Camus site Lettres Angevines de Yvon Joseph-Henri (lien)
. L'étranger de Camus (lien)
. La peste de Camus (lien)

Une bibliographie qui semble très complète (lien)